Bài viết mới đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ống Kính Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ống Kính Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

24 thg 2, 2016

Cách phân biệt các điểm du lịch tâm linh

24 thg 2, 2016 - by Ana · - 0 Comments

Chùa, đình, miếu, điện, phủ... đều là những công trình kiến trúc xuất phát từ tín ngưỡng thờ cúng dân gian, nhưng không phải ai cũng phân biệt được.
  •  
Đầu năm là khoảng thời gian nhiều người muốn đi lễ chùa, đền… cầu bình an, sức khỏe, thành công. Những lưu ý dưới đây sẽ giúp bạn có sự lựa chọn điểm đến thích hợp cho bản thân, gia đình để những tâm nguyện được đặt đúng nơi đúng chỗ.
Chùa
Chùa là một công trình kiến trúc phục vụ mục đích tín ngưỡng và thường là nơi thờ Phật. Trong mỗi ngôi chùa đều có tượng Phật được đặt ở giữa. Khi đi lễ chùa hay đến bất cứ ngôi đình, đền, miếu nào, bạn chú ý cần mặc quần áo dài, kín cổ, đi khẽ. Tránh mặc áo ngắn tay, áo sát nách, áo may ô, quần soóc, váy ngắn.
Đến chùa, mọi người thường cầu bình an, sức khỏe đến việc học tập của con cái, hay chuyện làm ăn, buôn bán sẽ thuận lợi. Nhưng theo quan niệm của nhà Phật, Phật chỉ phù hộ an bình chứ không thể phù hộ đường công, danh, tài, lộc. Vì vậy, khi đi chùa, bạn nên xin được Phật che chở, bảo vệ.
cach-phan-biet-cac-diem-du-lich-tam-linh
Chùa Đồng Yên Tử, Quảng Ninh. Ảnh: Tamngu.
Đình
Nếu như chùa là nơi thờ Phật thì đình là một công trình kiến trúc cổ truyền ở các làng quê Việt Nam thờ Thành hoàng. Đây còn là nơi hội họp của người dân trong làng. Cũng chính bởi vậy, địa điểm để xây dựng đình thường nằm ở trung tâm của làng, quay về hướng có nhiều sông nước.
cach-phan-biet-cac-diem-du-lich-tam-linh-1
Đình Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Nội. Ảnh: Lê Bích
Đền
Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị thần hoặc một danh nhân quá cố, người anh hùng có công với đất nước hay một cá nhân có công với địa phương được dân gian tương truyền như Lý Nam Đế, Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Trần Hưng Đạo…
Khi đi lễ ở Đình, Đền, bạn có thể cầu xin may mắn trong sự nghiệp, tình cảm…
cach-phan-biet-cac-diem-du-lich-tam-linh-2
Cổng đền Thượng giữa rừng già. Ảnh: Phạm Văn Thượng
Miếu
Miếu là một loại di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, có quy mô nhỏ hơn đền. Tuy nhiên, miếu lại có kiến trúc rất đa dạng với 3 gian vừa có nội điện vừa có nhà tiền tế.
Miếu có thể thờ rất nhiều đối tượng như thờ thần, thờ các bậc trung liệt có công với nước, với dân. Do đó, người dân quan niệm miếu phải được xây ở nơi yên tĩnh, trên gò cao, sườn núi để các vị thánh thần yên nghỉ.
cach-phan-biet-cac-diem-du-lich-tam-linh-3
Miếu bà Chúa Xứ, Châu Đốc, An Giang. Ảnh: An Bùi
Nghè
Nghè là một dạng của đền miếu và thờ thần thánh. Nghè có thể thờ thành hoàng làng ở làng nhỏ, cũng có thể là một ngôi đền nhỏ của một thôn trong xã nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tâm linh của người dân trong thôn.
cach-phan-biet-cac-diem-du-lich-tam-linh-4
Nghè Nguyệt Viên, Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Ảnh: Linh Trường
Điện
Giống như đền, điện là nơi thờ thánh trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Tuy nhiên, điện có quy mô nhỏ hơn đền, lớn hơn so với miếu. Điện thường thờ Phật, thờ Mẫu và các vị thần nổi tiếng khác. Điện có thể do cộng đồng hoặc tư nhân đứng ra xây dựng.
cach-phan-biet-cac-diem-du-lich-tam-linh-5
Điện thờ Thánh Mẫu. Ảnh: Trần Hoàng Hoàng
Phủ
Phủ là là nơi thờ tự mang tính chất trung tâm của cả một vùng rộng lớn, vượt ra khỏi phạm vi địa phương và thu hút nhiều người dân từ khắp nơi đến thờ cúng.
cach-phan-biet-cac-diem-du-lich-tam-linh-6
Phủ Tây Hồ. Ảnh: Goterest
Quán
Quán là một dạng của đền gắn với đạo Lão. Ban đầu, vào các thế kỷ XI và XIV, do nặng tính thần tiên nên các quán giống như một đền thờ thần thánh. Sang tới thế kỷ XVI và XVII, điện thờ đạo Lão có nhiều sự phát triển mới, với việc thờ cúng các thần linh cơ bản theo Trung Hoa.
cach-phan-biet-cac-diem-du-lich-tam-linh-7
Tượng chân dung Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn và phu nhân là Phúc Thành Thái trưởng Công chúa Mạc Thị Ngọc Lâm tại Đạo quán Linh Tiên, Hoài Đức, Hà Nội. Ảnh: ditichlichsuvanhoa.
Am
Am là một kiến trúc nhỏ thờ Phật, cũng có khi là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của xóm làng. Ở Việt Nam, có nhiều ngôi chùa từng là các am nhỏ trong quá khứ, như Chùa Thầy từng có tên gọi là Hương Hải am, Chùa Đậu từng là Thọ am.
cach-phan-biet-cac-diem-du-lich-tam-linh-8
Hương Hải am (nay là chùa Thầy, Hà Nội). Ảnh: LangvietOnline
VnExpress

21 thg 12, 2010

Hoàng thành Thăng Long xưa và nay

21 thg 12, 2010 - by Ana · - 0 Comments

Trong những bức ảnh cũ vào cuối thế kỷ 19, quần thể di tích lịch sử xưa là một công trình kiến trúc đồ sộ nằm trên vùng đất kinh kỳ quạnh quẽ, thưa vắng.
Ngày 1/8, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Dự kiến, Tổng giám đốc UNESCO sẽ tới Hà Nội vào 1/10 để dự kỷ niệm Đại lễ nghìn năm và trao giấy chứng nhận cho Hoàng Thành Thăng Long. VnExpress.net giới thiệu những hình ảnh tư liệu về quần thể di tích này, nằm trong bộ sưu tập Ký ức Hà Nội xưa của hai bố con nhà giáo Đoàn Thịnh và kiến trúc sư Đoàn Bắc.
Các bức ảnh được chụp vào khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, khi Pháp vào xâm chiếm nước ta. Trải qua cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn cùng sự tàn phá của thực dân, Hoàng thành trở nên xơ xác, tiêu điều. Vào thời nhà Nguyễn, kinh đô được dời vào Phú Xuân, Huế, quần thể di tích Hoàng thành xưa được gọi là Thành Hà Nội.
Đoan Môn - cửa chính đi vào Hoàng thành Thăng Long xưa.


Đoan Môn còn lại của ngày nay. Ảnh: Quang Xuân.


Cửa Bắc Hoàng thành xưa.


Cửa Bắc ngày nay. Ảnh: Quang Xuân.


Bắc Môn xưa và nay đều vẫn còn nguyên hai vết đại bác do quân Pháp bắn vào thành Hà Nội ngày 25/4/1882. Ảnh: Quang Xuân.


Khung cảnh Hậu lâu - nơi ở của các cung tần mỹ nữ.


Một góc Hậu lâu còn lại đến nay. Ảnh: Quang Xuân.


Điện Kính thiên trong Hoàng thành.


Nền đất nơi từng tồn tại Điện Kính Thiên. Ảnh: Quang Xuân.


Một góc thềm Điện Kính Thiên.


Rồng đá trên thiềm Điện Kính Thiên ngày nay. Ảnh: Quang Xuân.


Cột cờ xưa.

 
(Ảnh tư liệu trích từ bộ sưu tập Ký ức Hà Nội xưa)

Theo VnExpress

3 thg 12, 2010

Lời hát Ru

3 thg 12, 2010 - by Ana · - 0 Comments

Như mọi miền đất khác trên thế giới, dân tộc nào cũng có loại hình văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại: huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện tiếu lâm, tuồng, hài, ca dao, hò, vè... mà trong đó hát, hay còn gọi là hò ru con (ru em) là hình thức diễn xướng mà bất cứ ở làng quê nào trên dải đất Việt Nam cũng có.

Hò ru con có nét giống nhau là thường dùng thể thơ lục bát, lục bát biến thể với làn điệu nhẹ nhàng, lời ca thường đệm thêm nhiều tiếng không có nghĩa xác định. Chỗ khác nhau là về trường độ, cao độ, về sắc thái âm điệu, tiếng đệm... Hò ru con có một giá trị nhất định trong kho tàng văn chương bình dân của đất nước Việt Nam mà lực lượng thể hiện là phụ nữ Việt Nam qua nhiều năm tháng.

Hò ru con là hình thức diễn xướng quen thuộc của quê hương, được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ mà tuổi thơ là đối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm, chan chứa niềm yêu.

Hồn đất nước đượm màu trong lời ru, mẹ nuôi dưỡng tình yêu quê hương, ý thức chống ngoại xâm trong mỗi lời ca, dạy cho ta bài học về Tổ quốc:

Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng


Tình mẫu tử thiêng liêng, niềm khát vọng về một ngày mai con trưởng thành luôn đầy ắp trong lời mẹ ru thiết tha:

Ai trồng cây cũng muốn cây xanh
Ai sinh con cũng muốn lúc trưởng thành con nên


Hò ru con là giai điệu đẹp bền cùng thời gian, cuộc sống. Nội dung câu hò ru con hàm súc, phong phú, đề cập nhiều điều của quá khứ, hiện tại, tương lai... Là tình tự quê nhà giúp ta có niềm kiêu hãnh về dân tộc, tự hào về đất đai xứ sở:

Thương chi đồng nỗi thương con
Nhớ chi đồng nhớ nước non quê nhà


Từ đất đai, mẹ dạy con những điều nhân nghĩa, biết lao động, biết sản xuất nhằm xây dựng nước non nhà:

Ai ơi uống rượu thời say
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo?


Nội dung hò ru con tựu trung là một bản trường ca bất tận của kho tàng văn chương Việt. Có khi mẹ, chị hát về nhân nghĩa, về đạo lý làm người, về nghĩa vợ chồng, về thân phận người phụ nữ… Điệu hò thấm sâu vào tâm thức tuổi thơ, càng lớn, càng hiểu dần những điều mà mẹ, chị gửi gắm cho ta. Khôn ngoan theo thời gian, trưởng thành cùng câu hát. Biết ơn vô cùng điệu hò ru con cái thuở nằm nôi.

Nhìn từ một góc độ nào đó, điệu hò ru con là chất liệu ban đầu của tuổi thơ. Mẹ, chị đã gieo vào tâm hồn tuổi thơ những hạt giống lành về nhân ái, về đạo lý làm nguời, về tình yêu quê hương xứ sở.

Hình ảnh vầng trăng, ngọn cỏ, cánh diều... bóng dáng lũy tre làng, dòng sông thơ ấu... tất cả những sự vật cụ thể ấy đã trở thành ý niệm sống thiết thân từ tuổi thơ cho tới lúc trưởng thành. Trí tuệ, tâm hồn tuổi thơ cứ thấm nhuần những giá trị tình cảm đậm đà, những món ăn tinh thần thuần khiết, thiêng liêng, cao cả ấy.

Mong sao dù bất cứ không gian nào, thời gian, hoàn cảnh, địa hình nào, người phụ nữ Việt cũng khôn khéo dạy dỗ tuổi thơ bằng những điệu hò ru con của quê hương, xứ sở. Và những người mẹ Việt Nam, bằng vốn văn hóa truyền thống của mình, sẽ cho tuổi thơ được tắm mình trong ngọn nguồn ca dao đằm thắm; cho mai ngày con lớn khôn sẽ trở thành nguời công dân gương mẫu, đạo đức, đóng góp cho xã hội nhiều công ích thiết thực với nhân cách Việt Nam.

Hát ghẹo - 36 cuộc chuyện trò chứa chan tình cảm

- by Ana · - 0 Comments

Hát ghẹo là một hình thức hát giao duyên, đối đáp nam nữ phổ biến khắp nơi, từ miền xuôi đến miền ngược mỗi khi xuân đến, khi mùa màng bội thu, khi nông nhàn hay những đêm trăng sáng.

Mỗi vùng có một cách hát ghẹo khác nhau: khác về cách hát, tổ chức hát, giọng hát cũng như lề lối, phong tục hát. Sự khác nhau đó cũng tuỳ theo sự giao lưu vǎn hoá và những yếu tố xã hội của từng địa phương. Trong sự giao lưu đa sắc đó, hát ghẹo ở Phú Thọ mang trong mình một nét riêng duyên dáng, dường như đất tổ nơi đây mới là chốn neo đậu và thǎng hoa của loại hình nghệ thuật dân gian này.

Hát ghẹo ở huyện Tam Nông (nay là Tam Thanh) và Thanh Sơn cũng như hát xoan đã trở thành sản phẩm riêng của Phú Thọ. Nó mang phong cách đậm đà màu sắc địa phương, phát triển liền mạch theo thời gian. Cứ vậy, hát ghẹo Phú Thọ không bị lẫn với hát ghẹo ở bất cứ nơi nào. Nguồn gốc hát ghẹo được gắn với câu chuyện dựng lại ngôi đình làng Nam Cường thờ Xuân Nương công chúa.

Chuyện kể rằng ngôi đình làng thờ nữ tướng Xuân Nương bị cháy, trai tráng Nam Cường cùng nhau lên rừng đại ngàn kiếm gỗ về dựng lại đình. Đến địa phận xã Thục Luyện, mệt quá, trai tráng ngồi nghỉ chân, trai gái Mường biết vậy liền đưa thịt rừng rượu thơm ra đãi. Lại cùng nhau lên rừng ngả gỗ đóng bè cho trôi theo dòng sông xuôi về. Qua địa phận xã Thục Luyện bè bị mắc cạn, đẩy mãi không qua, những cô gái Mường ở thôn Hùng Nhĩ đi hái mǎng về bèn khuyên vừa đẩy bè vừa hát thì thần thác mới hài lòng để cho bè xuôi. Quả thật, khi trai gái hai bên cùng nhau đẩy và hát đối đáp với nhau thì bè nhích dần rồi chảy về xuôi. Thác thần từ đó được gọi là thác "đôi ta", khúc hát đẩy bè trên được gọi là "hát ghẹo" hay "ghẹo nước nghĩa" (nghĩa là hát giữa các thôn làng kết nghĩa với nhau), "hát anh chị". Sở dĩ có tên "hát anh chị" vì hai bên hát đối đáp với nhau sẽ gọi nhau là anh, là chị. Hát ghẹo ở Nam Cường trở nên nổi tiếng và được gọi là hát ghẹo Nam Cường để phân biệt với hát ghẹo của các vùng khác.

Các thôn làng hát ghẹo để giao lưu tình cảm cũng như nghệ thuật hay còn ý nghĩa thiêng liêng là tế thần chứ không để mong cầu về vật chất của nhau. Các làng kết nghĩa này trai gái gọi nhau là liền anh, liền cô hay quan anh, quan cô. Trai gái những làng kết nghĩa thì không được lấy nhau.

Ở Nam Cường người ta tổ chức hát ghẹo vào ngày khánh thành đình làng - ngày mồng 9, mồng 10 và 11 tháng 9 âm lịch. Hai ngày đầu thì tiến hành việc tế lễ, ngày hôm sau thì tổ chức hát ghẹo thành những nhóm ở từng nhà dân. Vì thế mà hát ghẹo không phải là một loại hát tế lễ hay dân ca tín ngưỡng hay "hát cửa đình", cũng không phải loại hình hát tự do như hát trống quân, hát ví, hát đúm mà hoàn toàn chỉ là một kiểu sinh hoạt vǎn hoá cộng đồng mang đậm tính dân gian, tự do. Các thôn kết nghĩa và hát với nhau, nǎm nay thôn này làm chủ thì sang nǎm lại làm khách. Đội khách bao giờ cũng chọn nam và đội chủ thì ngược lại chọn nữ. Nam Cường tổ chức hát ghẹo vào tháng 9 âm lịch là chủ, đến lượt Thục Luyện, Hùng Nhĩ hát ghẹo tổ chức vào tháng 3 âm lịch thì Nam Cường lại là khách.

Để tổ chức ngày lễ hát ghẹo nước nghĩa thì trước ngày tế lễ hàng nǎm khoảng một tháng, những vị chức sắc trong làng thường họp nhau lại bàn bạc về việc tổ chức cúng tế cho phù hợp với khả nǎng kinh tế của làng. Tùy theo nǎm được mùa hay mất mùa mà tổ chức tế lễ mời khách nhiều hay ít và tất nhiên phí tổn đều do dân làng đóng góp. Dân làng cũng cử ra số người tương đương đội khách mà tập luyện hát mừng đón tiếp anh em nước nghĩa. Những chị em được chọn hát ghẹo của làng (đội chủ) là những người không bận việc gia đình, không có chuyện tang bụi và chắc chắn phải có giọng hát khoẻ, ngọt ngào, phải nhớ được nhiều câu. Nước nghĩa được mời thì chuẩn bị những nam thanh trạc tuổi tương đương có tài nǎng ca hát để đáp lễ. Tất cả chuẩn bị công phu để chờ ngày tế lễ. Và cũng đã thành truyền thống, trong ngày hội hát ghẹo, người ta quy định cụ thể về cách ứng xử, ǎn mặc, giọng hát, thể lệ và nơi chốn sẽ được tiến hành.

Với cách xưng hô trang trọng, những ông già, bà già trong dịp tế lễ được gọi là, "quan trùm", "bà trùm", các anh, các chị được gọi là "quan anh", ''quan chị''. Hai bên nước nghĩa đều dùng cách xưng hô trang trọng này không phân biệt chủ khách. Những bộ áo the, quần trắng, khǎn xếp đội đầu đẹp nhất dành cho ngày hội là trang phục của các quan anh và áo nǎm thân, áo cánh trắng, quần lụa sồi, yếm điều, thắt lưng bao các mầu, xà tích đeo, khǎn mỏ quạ chít đầu là trang phục của các quan chị.

Chỗ hát thường được bắt đầu từ nhà của một ai đó trong làng. Nhà được chọn để hát phải khá sạch sẽ, mát mẻ, rộng thoáng và đặc biệt gia đình không có chuyện gì buồn. Các quan trùm, quan anh là khách thường ngồi trên sập, trên giường giữa nhà, còn các bà trùm, các quan chị thường giải chiếu ngồi trên dãy giường của gian bên.

Cách hát là hình thức hát đối đáp nam nữ, nên các anh cũng như các chị mỗi lần thường hát hai người, khi hát họ nhìn thẳng vào nhau vừa để biểu lộ tình cảm vừa để khi hát ra vào cho ǎn khớp với nhau.

Đối với giọng hát trong ngày hội được quy định bốn loại giọng gắn liền với từng giai đoạn của ngày hội. Mở đầu là giọng ví đãi trầu diễn ra cùng lúc với việc các chị mời quan khách dùng trầu. Trầu thường được để vào khǎn tay, hoặc đặt trên khay, trên đĩa và các chị hát mời các anh bằng giọng lễ phép ngọt ngào: Em thưa với các anh em, miếng trầu để đĩa bưng ra, xin anh nhận lấy để mà thở than, thưa anh. Sau khi kết thúc ví đãi trầu thì giọng hát chuyển sang giọng sổng, đây là lúc mà câu chuyện đã vào đề hai bên hát đối đáp chuyện trò thân mật với nhau. Giọng thứ ba gọi là sang giọng, được hát để các liền anh, liền chị thể hiện tài nghệ đối đáp của mình. Đây được coi là cao điểm của ngày hội, theo các cụ ngày xưa thì sang giọng gồm có 36 chất giọng khác nhau. Hát hết 36 giọng này cũng là lúc trời vừa sáng, dân làng dọn cơn để khách ǎn và chuẩn bị ra về. Tiễn khách ra về hai bên cùng hát giọng ví tiễn chân, các câu ví lúc này được thốt lên từ đáy lòng của mỗi người sau một cuộc chuyện trò chứa chan tình cảm. Vậy nên, lời ca ứng tác đầy cảm xúc, đầy sáng tạo nghệ thuật, vừa bay bổng vừa thắm đượm tình người, đến nay vẫn còn nguyên vẹn từng câu từng chữ:

Anh về có chốn thở than
Em về ngồi tựa phòng loan một mình
Anh về tự bóng sao mai
Đêm khuya em biết lấy ai bạn cùng




Trang Văn hoá Nghệ thuật-VDC

Sự tinh tế trong cách thưởng trà của người Hà Nội xưa

- by Ana · - 1 Comment

Mỗi cân trà, nghệ nhân Hà thành ướp cùng 1.000 -1.200 bông sen vì thế người nước ngoài đã không ít lần xuýt xoa trước nghệ thuật ướp trà cầu kỳ, tinh tế của người Hà Nội.



Trong nghệ thuật ướp trà này, trà mạn hảo được ưa chuộng hơn cả. Nguyên liệu là trà Tuyết Shan cổ thụ vùng mạn ngược Hà Giang, mọc tự nhiên trên những dãy núi cao 800 -1.300 m, quanh năm sương phủ. Các nghệ nhân trà Hà Nội trân trọng, nâng niu từng búp trà này như một báu vật. Họ chọn lựa những búp non, những lá trà bánh tẻ rửa sạch, cho vào chõ đồ chín. Sau khi phơi khô, họ cho trà vào chum (vại), trên phủ một lớp lá chuối khô, ủ 3 - 4 năm cho trà phong hoá bớt chất chát, có độ xốp như giấy bản mà vẫn lưu giữ được hương vị đặc trưng.



Khi ướp, người ta rải một lớp trà rồi một lớp gạo sen mỏng, rồi lại một lớp trà, một lớp gạo sen. Cứ thế cho đến khi hết trà. Sau cùng, phủ một lớp giấy bản. Thời gian ướp tuỳ thuộc vào độ ẩm của gạo sen nhiều hay ít, thường từ 18 -24 giờ. Sau đó, đem sàng để loại bỏ những hạt gạo sen. Sàng loại xong, trà được đóng vào những chiếc túi làm bằng giấy chống ẩm để giữ lấy cả hương sen lẫn hương trà, rồi sấy cho đến khi cánh trà khô, hương sen quyện thì bỏ ra. Lại ướp một lần sen thứ hai, thứ ba, thậm chí thứ tư, thứ năm tuỳ thuộc vào sở thích của người thưởng trà đậm hay nhạt. Càng ướp nhiều lần thì hương sen càng quyện, trà càng thơm. Trung bình, mỗi cân trà  ướp cần từ 1.000 -1.200 bông sen. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, mỗi 1kg trà sen thời xưa được đổi bằng 2 -3 chỉ vàng mà người sành trà vẫn nao nức lùng mua bằng được.



Với người Hà Nội, uống trà là một thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, người ta phải để vào đó nhiều công phu. Những công phu đó, dần trở thành lễ nghi. Trong ấm trà ngon, người ta thấy phảng phất một mùi thơ và một vị triết lý. Các trà nhân từ xưa rất chú ý đến nghệ thuật thưởng trà với nhiều loại trà cụ (dụng cụ pha trà) cần thiết để làm sao cho người uống cũng có thể cảm nhận và thể nghiệm giống như các thiền sư. Dùng thìa gỗ múc trà cho vào ấm đất nung nhỏ, được gọi là “Ngọc diệp hồi cung”.



Để có được chén trà ngon thì bình trà và tách uống trà phải được làm nóng lên bằng nước sôi. Trà cụ dùng để xúc trà, lấy bã trà đều bằng tre khô hoặc gỗ thơm. Khi châm nước lần một gọi là “cao sơn trường thuỷ” rồi chắt ngay ra. Đây là thao tác tráng trà nhằm loại hết bụi bẩn và cho trà khô kịp thấm không nổi lềnh bềnh. Lần thứ hai đổ nước vào ấm gọi là “hạ sơn nhập thuỷ” nên đổ nước cao, tràn miệng bình để khi đậy nắp lại, bụi trà tràn ra hết, rồi dội nước sôi lên nắp để giữ nhiệt độ cao nhất cho ấm trà. Nước hai chính là nước ngon nhất được tạo ra trong vòng 1-2 phút, có hương vị đượm đà, thơm tho quyến rũ. Khi rót trà phải chuyên đều các chén sao cho nồng độ trà như nhau bằng cách kê khít miệng chén lại và đưa vòi ấm quay vòng. (Cách phổ biến trong truyền thống là rót ra chén tống (chén hạt mít) rồi chia đều ra các “chén quân”. Cách này ngày nay ít dùng vì phần làm nguội trà, phần hương trà phôi pha.

Dâng chén trà theo đúng cách là ngón giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón chỏ và cái đỡ miệng chén gọi là “Tam long giá ngọc”. Người dâng trà và người nhận đều phải cung kính cúi đầu. Trước khi uống, đưa chén trà sang tay trái, mắt nhìn theo, sau đó đưa sang phải “du sơn lâm thuỷ”. Khi uống, cầm chén trà quay lòng bàn tay vào trong, dâng chén trà lên sát mũi để thưởng thức hương trà trước, sau đó tay che miệng nháp nháp từng ngụm nhỏ nhẹ. Tay áo các quan lại phong kiến thường rất rộng cũng một phần vì lẽ dùngche miệng khi uống trà là vậy. Che miệng khi ăn, uống, cười trong chèo, tuồng, trong đời sống người Việt xưa chính là một hành vi văn hoá. Người uống cũng phải chậm rãi mím miệng nuốt khẽ cho hương trà thoát ra đằng mũi và đồng thời đọng trong cổ họng, nuốt tý nước bọt lần một, lần hai, lần ba để cảm nhận.

Ngoài cách uống trà trong gia đình, người Hà Nội xưa còn có các hình thức Hội trà, uống trà thưởng hoa đầu năm, uống trà thưởng hoa quý và uống trà ngũ hương. Trong đó, hội trà là hình thức tụ họp cùng thưởng trà khi có trà ngon hay dịp đặc biệt của các cụ. Thưởng trà đầu xuân là thói quen của riêng các bậc tao nhân chốn kinh thành xưa. Thường thì trước Tết, đích thân các cụ đi chọn mua hoa đào, cúc, mai trắng, thuỷ tiên ở tận vườn, chuẩn bị loại trà ngon nhất. Sáng mùng một, con cháu dành riêng cho cụ những giây phút đầu tiên để tịnh tâm và ngắm hoa, thưởng trà, sau đó mới là cả đại gia đình cùng ngồi quanh bàn trà chúc thọ cụ và nghe lời dặn dò.



Uống trà thưởng hoa quý như hoa quỳnh, hoa trà cũng là cái thú của nhiều người Tràng An. Đó cũng là hình thức hội trà quanh chậu hoa quý vào tối hoa mãn khai của những người cao tuổi, đàm đạo thế sự, văn chương và dặn dò lớp con cháu.



Trà ngũ hương chỉ giới hạn cho 5 người. Khay uống trà ngũ hương phải thửa 5 chỗ trũng để 5 loại hoa đang độ đượm hương nhất: cúc, sói, nhài, sen, ngâu và úp các chén kín hoa, bưng khay để lên nồi nước sôi cho hương hoa bám vào lòng chén. Pha trà mạn ngon và rót đều vào từng chén, mỗi người tham gia sẽ phải đoán hương trà trong chén của mình và cùng nhận xét. Sau mỗi chén trà, người chủ trà lại hoán vị hương để ai cũng được thưởng thức hết cái tinh tuý của hội trà ngũ hương.

1 thg 12, 2010

Làng Triều Khúc – trầm mặc giữa phố phường

1 thg 12, 2010 - by Ana · - 0 Comments

Thăng Long – Hà Nội đã đi qua 1000 năm tuổi và vẫn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa còn trường tồn mãi cùng với dòng chảy của thời gian. Một trong những nét đẹp văn hóa còn được người dân Hà thành gìn giữ cho tới bây giờ đó chính là các làng cổ. Bên cạnh làng cổ Đường Lâm, làng cổ Nghi Tàm…, làng Triều Khúc cũng góp cho Hà Nội một địa chỉ văn hóa để du khách gần xa có dịp về đây tham quan. Phong cảnh, di tích, phong tục văn hóa và sinh hoạt của làng quê này vẫn mang dấu ấn từ thời khai làng lập đất.

Làng Triều Khúc thuộc xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, cách trung tâm Hà Nội 8km theo đường Hà Nội đi Hòa Bình. Về với làng Triều Khúc, du khách sẽ ngỡ ngàng trước những phong cảnh nguyên sơ, mộc mạc của làng quê Việt Nam. Dường như cảnh vật nơi đây không hề bị biến đổi khi nằm ngay cạnh trung tâm kinh tế, chính trị náo nhiệt của cả nước. Những đình, đền, chùa, cây đa, giếng nước… đều giữ được những nét cổ kính từ đời này qua đời khác. Những con đường vào làng được lát gạch sạch sẽ, những mái ngói san sát nằm kề nhau tạo cho làng quê một vẻ bình dị và gần gũi. Dưới những mái ngói bạc màu thời gian ấy là những cuộc đời quanh năm gắn bó với làng quê.  

Làng Triều Khúc nổi tiếng gần xa với nghề dệt, được hình thành từ cuối Lê đầu Nguyễn. Đến nay, người Triều Khúc vẫn còn truyền nhau câu chuyện về tổ nghiệp của họ - ông Vũ Đức Úy, sống vào thế kỷ 18. Ông được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc, học nghề dệt thao sau đó về dạy lại cho dân làng. Từ đó, Triều Khúc còn được gọi là làng Kẻ Thao bởi nghề dệt thao giúp chiếc nón quai thao trở nên mềm mại và tinh tế hơn. Cùng với nghề dệt thao, người làng còn kết hợp nghề thêu may với nghề dệt nhuộm, để làm thêm chân chỉ, tua bóng, tua cờ, lọng, tàn, trướng, y môn, tán tía, quả cù - những vật thờ và trang trí treo trong những ngày lễ tết, trong các đền, phủ và các buổi lễ hội. Trong làng, đâu đâu cũng có những cơ sở sản xuất, không khí lao động hăng say, tích cực. Họ quay sợi, dệt vải và cũng là dệt nên truyền thống tốt đẹp của quê hương. Bằng đôi bàn tay khéo léo của mình, mỗi người dân đã góp phần làm nên sự tồn tại và phát triển bao đời nay của làng Triều Khúc, tạo nên bộ mặt sung túc cho vùng quê cổ kính này.  
Nổi bật giữa khung cảnh làng quê bình yên, thơ mộng là cụm di tích đình – đền – chùa Triều Khúc.  
Đình là trung tâm diễn ra lễ hội của làng. Ở Triều Khúc có hai đình là đình Sắc (nơi để sắc phong) và đình Đại hay còn gọi là Đình Lớn (nơi thờ Phùng Hưng). Kiến trúc của cả hai ngôi đình đều còn nguyên vẹn như xưa. Đình có quy mô kiến trúc lớn, gồm tam quan, phương đình, hai dãy nhà giải vũ, đại đình và hậu cung. Tam quan là một ngôi nhà gạch ba gian kiểu vì kèo. Sau tam quan là phương đình hai tầng, tám mái, mười sáu cột (bốn cột cái lớn và mười hai cột quân), các kẻ chạy từ cột cái tới nóc. Các đầu kẻ có chạm rồng và lá, đầu dư chạm hình đầu rồng thời Nguyễn, góc mái uốn cong, bờ dải đắp nổi hình rồng, phượng hướng về nóc mái. Qua sân là hai nhà giải vũ song song với phương đình.  
Đại đình là kiến trúc chính gồm năm gian lợp ngói ta, với 24 cột, bốn hàng dọc, sáu hàng ngang, ba mặt xây tường gạch. Hậu cung là một ngôi nhà ba gian nối với gian giữa đại đình tạo nên kiến trúc hình chữ "đinh". Đây là nơi đặt long ngai bài vị, đồ thờ tự và mười một đạo sắc phong, sớm nhất là năm Cảnh Hưng thứ 44 (1784), muộn nhất là năm Khải Định thứ 9 (1924).  
Đền Triều Khúc được xây ở giữa làng, trông ra hồ rộng. Đây là ngôi nhà rộng, phía trong có hệ thống sàn, trước sau đều để trống, thoáng đãng. Sau ngôi nhà này là ngôi nhà làm nơi thờ (có thể gọi là tiền đình), nối liền với hậu cung, 2 bên đầu hồi có tường nối suốt cả ba toà. Đền Triều Khúc được chạm trổ khá công phu.  
Chùa Triều Khúc có tên chữ là Hương Vân tự, có quy mô to lớn, bao gồm tam quan, tam bảo, tiền đường, thượng điện, hai dãy hành lang, nhà Tổ. Chùa toạ lạc phía bên kia bờ hồ đình và đền Triều Khúc, trong một khuôn viên có nhiều cây cổ thụ sum suê. Tam quan hai tầng mái ở cửa chính và 2 cửa phụ, có bốn cột trụ biểu. Nhà tiền đường gồm năm gian, tường hồi bít đốc tay ngai bờ nóc đắp cuốn thư. Toà thượng điện 5 gian nối với tiền đường tạo hình chuôi vồ. Phật điện có 52 pho tượng được tạo tác từ thế kỉ 18 và thời Nguyễn.  
Đình - đền - chùa Triều Khúc đều đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Lịch sử - Nghệ thuật - Kiến trúc ngày 29/01/1993.  
Ngoài ra, làng Triều Khúc còn được giới sử học công nhận làng cổ từ khi các nhà khảo cổ học tìm thấy di chỉ khảo cổ học với 140 hiện vật đá, gốm thuộc Văn hóa Phùng Nguyên cách ngày nay trên dưới 3.500 năm, trên gò Cây Táo ở cánh đồng Miễu của làng.  
Đến Triều Khúc vào mùa lễ hội, du khách sẽ được hòa mình vào không khí náo nhiệt của những phong tục văn hóa và sinh hoạt dân gian truyền thống. Để nhớ ơn người đã đem lại cuộc sống ấm no cho mình, dân làng đã thờ ông tổ nghề tại đình Lớn cùng với vị Thành hoàng là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (770 - 798). Hằng năm, làng tổ chức lễ hội tại đình Lớn để ghi nhớ công ơn tổ nghề và thao diễn lại trận đánh oanh liệt của vị Đại vương mà dân làng vẫn tôn kính phụng thờ.  
Lễ hội Triều Khúc được tổ chức từ mùng 9 đến 12 tháng Giêng. Vào sáng mùng 10, lễ tế chính thức được tiến hành ở đình Lớn. Theo truyền thuyết thì đây là lễ Tức vị (lễ lên ngôi) của Phùng Hưng. Trong lễ tế thường có hai điệu múa rất nổi tiếng là múa Rồng và múa Trống Bồng. Ngoài ra, hội làng Triều Khúc còn có nhiều trò vui khác như múa lân hí cầu, đấu vật, hát Chèo Tàu. Sới vật Triều Khúc cũng là một trong những sới nổi tiếng, thu hút khá đông các đô vật nơi khác về tham dự: Bắc Ninh, Gia Lâm, Mai Động...   
Giữa phố phường tấp nập được lắng mình trong không gian văn hóa của làng cổ Triều Khúc quả là một điều đáng quý. Có thể nói làng Triều Khúc với những phong tục văn hóa truyền thống và những lễ hội dân gian đã thể hiện sâu sắc cốt cách và nét đẹp tâm linh của người Hà thành. Những nét văn hóa nguyên sơ ấy đã được người dân nơi đây lưu truyền từ đời này qua đời khác và chắc chắn sẽ còn mãi với thời gian…

Chùa Hà – nốt trầm của bản nhạc đất kinh kỳ

- by Ana · - 0 Comments

Thăng Long - Hà Nội giống như một giai điệu đẹp với nhiều cung bậc khác nhau, có nốt trầm nốt bổng. Những ngôi chùa Hà Nội chính là những nốt trầm của bản nhạc kinh kỳ ngàn năm văn hiến. Ngoài những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc hay “tứ trấn Thăng Long” thì chùa Hà cũng góp cho thủ đô một nốt nhạc riêng hòa vào giai điệu chung của Thăng Long – Hà Nội.

Chùa Hà có tên chữ là Thánh Đức tự, cùng với Đình Bối Hà, lập thành cụm di tích Đình - Chùa Hà nằm trên mảnh đất, trước kia thuộc làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, nay thuộc phố Chùa Hà, thôn Trung, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.  

Liên quan đến lịch sử hình thành ngôi chùa này có hai truyền thuyết. Theo truyền thuyết thứ nhất: chùa có từ thời vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072). Khi ấy nhà vua đã ngoài 40 tuổi mà chưa có con nên đi đến một ngôi chùa trên vùng Dịch Vọng ngày nay để cầu tự, sau đó sinh ra Thái tử Càn Đức, sau này lên ngôi lấy hiệu là Lý Nhân Tông. Ngôi chùa nhà vua đến về sau đổi tên thành chùa Thánh Chúa. Trên đường về nhà vua lại ghé thăm một ngôi chùa khác và ban tiền để sửa chùa. Ngôi chùa này chính là chùa Hà và do vậy mà chùa mang tên chữ là: Thánh Đức tự.  
Thuyết khác lại nói rằng ngôi chùa này dựng lên từ thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) để nhà vua tỏ lòng biết ơn đối với các đại thần Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Đinh Liệt vì đã phế bỏ Nghi Dân và giúp mình lên ngôi vua (năm 1460).  
Trải qua bao thời kỳ lịch sử, chùa Thánh Đức đã bị phá hủy nhiều lần. Đến đời vua Lê Hy Tông (1675 -1705) có hai người quê làng Thổ Hà tỉnh Bắc Giang sang ở chùa để bán các đồ gốm sứ ở chợ trong và ngoài thành Thăng Long. Nhờ buôn bán phát đạt, hai gia đình này tình nguyện công đức số tiền lớn cùng nhân dân trong xóm xây dựng lại chùa với quy mô lớn bằng gạch ngói vào năm Chính Hòa (1680). Từ đó hai làng Thổ Hà và Dịch Vọng Trung kết nghĩa, đặt tên xóm có ngôi chùa là Bối Hà và chùa có tên nôm là chùa Hà.  
Trong kháng chiến chống Pháp, đầu năm 1947, chùa Hà bị giặc phá huỷ chỉ còn sót lại Tam quan, một phần Phật điện với một số tượng Phật khác. Sau đó , cụ Đức - người trông coi chùa ngày ấy - đã dựng lại mái chùa bằng tre gỗ đơn sơ. Năm 1988, bằng tiền công đức của dân, từng bước chùa được tu sửa với diện mạo dựa theo lần trùng tu lớn năm 1680.  
Nay đến thăm chùa Hà, chúng ta sẽ bắt gặp một công trình kiến trúc được xây dựng trong một không gian thoáng đãng, ẩn mình dưới những vòm cây cổ thụ. Tam quan xây hai tầng có hệ thống cầu thang lên ở phía trái. Tầng trên xây kiểu chồng diêm, giữa bờ đinh mái thượng đắp nổi hình mặt trời lửa đặt trên hình hổ phù, hai đầu kìm đắp hình rồng đuôi xoắn, miệng ngậm bờ nóc, mái lợp giả ngói ống. Tầng dưới chia làm ba gian với 12 cột trụ xây nổi trên mặt tường.  
Tầng hai Tam quan treo chuông đồng Thánh Đức tự chung niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7 (1799), một di vật thời Tây Sơn còn bảo quản nguyên vẹn. Chuông cao 1m20, chu vi đáy 1m80, được đúc tinh tế, phần trên bốn múi chuông được khắc nội dung văn chuông, phần dưới được khắc tứ linh: long ly quy phượng rất sống động. Phía trên là hai con bồ lao đầu nhìn về hai phía, bốn chân gắn chặt vào chuông.  
Bước qua Tam quan vào bên trong sân chùa, du khách sẽ nhìn thấy một vườn cây xanh, hồ nước hình bán nguyệt và cây đa cổ thụ. Bên cạnh hồ nước là bia đá bốn mặt Thánh Đức tự bi mới được phục chế gần đây. Ba mặt bia khắc chữ Hán, một mặt bia khắc chữ quốc ngữ. Bia chùa do Tri huyện Nguyễn Đình Trạch soạn vào năm Chính Hòa thứ 16 (1695).  
Chùa chính gồm 5 gian, kết cấu kiểu chữ Đinh có Tiền đường và Thượng điện, Tam bảo. Tòa Phật điện của chùa được bố trí theo nhiều lớp. Lớp cao nhất là ba pho Tam thế thường trụ diệu pháp thân, đại diện cho Đức Phật ở thì hiện tại, quá khứ và tương lai. Lớp thứ hai có tượng A Di Đà có kích thước lớn, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Phía dưới tượng A Di Đà là tượng A Nan Đà, Đức Ông. Phía ngoài chính điện giáp với đại bái là tượng Thích Ca sơ sinh. Lớp tượng ở nhà bái đường nổi bật nhất là tượng Thiên Tướng Hộ Pháp cao lớn mặc áo giáp vàng. Hai bên đầu hồi còn đặt 8 vị Thần Vương Hộ Pháp.  
Phía sau chính điện của chùa là Điện Mẫu. Kiến trúc Điện Mẫu bao gồm phía trước là Phương đình, phía sau là Thần điện. Trong Phương đình có đặt đỉnh hương và đôi hạc lớn. Phía sau Phương đình là nhà bái đường gồm 5 gian làm theo kiến trúc cổ. Gian chính giữa đặt Mẫu Thượng Thiên trang phục màu đỏ, bên trái là tượng Mẫu Thượng Ngàn trang phục màu xanh, bên phải là tượng Mẫu Thủy trang phục màu trắng. Ngoài ra còn có tượng các ông hoàng, bà chúa, tượng cô cậu khác. Đặc biệt là bức phù điêu Bát Tiên treo bên trái hồi rất sống động. Bàn thờ phía dưới cùng của Điện Mẫu là Ngũ Hổ thần quan, hay gọi nôm là Quan Năm Dinh, biểu tượng bằng 5 mãnh hổ với màu sắc khác nhau.  
Trải qua một thời gian dài tồn tại, chùa Hà vẫn lưu giữ được nhiều di vật có giá trị nghệ thuật như: bộ tượng Tam Thế Phật, tượng A Di Đà, tượng Đức Chúa Ông và Thánh Tăng, 18 tấm bia đá niên hiệu thời Nguyễn, nhiều câu đối, hoành phi có nội dung ca ngợi cảnh đẹp của chùa và sự linh thiêng của Phật pháp và những tác phẩm điêu khắc nghệ thuật thuộc thế kỷ 19. Ở chùa Hà còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ bằng gốm như bát hương, chĩnh, ang, vại... thể hiện sự tôn kính và tín ngưỡng của người Thổ Hà xưa kia.  
Bên cạnh khu vực chùa Hà là đình Bối Hà thờ Thành hoàng làng Triệu Chí Thành. Đình được xây dựng từ năm 550 thời vua Triệu Việt Vương.  
Đình Bối Hà nhìn về hướng tây, kiến trúc theo kiểu chữ Đinh, tuân thủ quy luật âm dương: tiền quảng đại, hậu thần mật; tiền náo nhiệt, hậu túc tĩnh. Phía ngoài là thiên trụ, trên đắp phượng hoàng chầu tứ phương và hổ phù, nổi bật là câu đối: Đền miếu huy hoàng, nhân kiệt địa linh thiên cổ mãi; Uy thần vời vợi, người khỏe của lắm vạn năm dài.  
Cạnh thiên trụ là một nghi môn nhỏ, trên đề: Bối Hà miếu. Đi qua nghi môn vào sân đình, tiếp đến là thiên trụ thứ hai ngăn cách giữa sân lớn và sân nhỏ, đỉnh thiên trụ đắp nổi đôi nghê. Trên thiên trụ là đôi câu đối: Thiên trụ vững vàng, đối diện Tản Viên ngời thắng cảnh; Đền thần vòi vọi, chảy hoài Tô Lịch tỏ danh lam. Đi từ sân lớn lên sân nhỏ ngước lên phía trên là nóc đình được đắp đôi rồng chầu mặt trời, đầu bờ nóc được khóa chặt bởi hai đầu rồng.
Trong đình, ngoài bát bửu, lư hương đồng, long ngai, bài vị thì đình Bối Hà còn có đôi hạc đứng vững chắc trên lưng rùa.    
Đình - chùa Hà thu hút ngày càng đông khách tham quan du lịch gần xa. Cứ đến ngày sóc vọng (mùng 1 và 15 âm lịch) hàng tháng, đình chùa Hà chật ních người đến thắp hương lễ Phật cầu Thánh. Họ cầu mong Phật, Thánh đem lại cho mình nhiều may mắn và phúc lộc trong cuộc sống. Điều đặc biệt là mặc dù không phải là nơi thờ Nguyệt lão (ông tiên coi quản việc nhân duyên) nhưng từ lâu chùa Hà đã được giới trẻ truyền tụng là một nơi rất linh nghiệm trong việc cầu duyên. Hầu như ngày nào cũng có những thiện nam, tín nữ đến đây cầu khấn thần phật mong cho duyên vừa đẹp ý, sớm gặp người trong mộng. Đó là lý do để chùa Hà trở thành một ngôi chùa đặc biệt, khác với những ngôi chùa trên đất Hà thành.  
Hiện nay đình và chùa Hà thường tổ chức các lễ hội: Ngày 11/1 âm lịch kỷ niệm ngày sinh của Thành hoàng Triệu Chí Thành. Ngày 12/8 âm lịch kỷ niệm ngày hóa của Thành hoàng. Ngày 12/2 âm lịch là ngày vào đám cầu phúc, cầu mưa thuận gió hòa, người khỏe của nhiều. Trong lễ hội thường diễn ra các tiết mục như đánh cờ người, đánh đu, kéo co, hát cửa đình, múa sư tử ...    
Chùa Hà là một địa chỉ văn hóa của Thủ đô bởi những giá trị lịch sử và giá trị tâm linh tiềm ẩn trong khối kiến trúc bình dị mà thâm nghiêm. Năm 1982, chùa đã được gắn biển “Di tích cách mạng”. Tháng 12/1996, chùa đã được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa.

(Nguồn: Trung tâm Thông tin du lịch)

24 thg 11, 2010

Giới thiệu về Sông Hương

24 thg 11, 2010 - by Ana · - 0 Comments

Sông Hương có hai ngọn nguồn. Nguồn tả trạch xuất phát từ dãy núi Trường Sơn chảy về hướng tây bắc qua 55 ngọn thác hùng vĩ,từ từ chảy qua ngã ba Bằng Lãng ,Hữu Trạch ngắn hơn sau khi vượt 14 ngọn thác hiểm trở và qua bến đò Tuần thì đến ngã ba Bằng Lãng hợp dòng với Tả Trạch thành sông Hương thơ mộng.



Sông Hương dài 30km nếu chỉ kể từ Bằng Lãng đến cửa Thuận An, độ dốc của dòng nước so với mặt biển không chênh lệch nhiều nên nước sông chảy chậm.
Sắc nước sông Hương trở nên xanh hơn khi vượt qua chân núi Ngọc Trản - điện Hòn Chén, tạo nên một lòng vực sâu thẳm.


Sông Hương


Sông Hương đẹp từ nguồn, uốn lượn quanh co giữa núi rừng, đồi cây mang theo những mùi vị hương thơm của thảo mộc rừng nhiệt đới.
Dòng sông chầm chậm lướt qua các làng mạc xanh tươi, rợp bóng cây của Kim Long, Nguyệt Biều, Vĩ Dạ, Ðông Ba, Gia Hội, Chợ Dinh, Nam Phổ, Bao Vinh, quyện theo mùi thơm của các loài hoa xứ Huế.
Dòng sông xanh trong vắt lung linh như ngọc bích dưới ánh mặt trời, những con thuyền Huế xuôi ngược, dọc ngang với điệu hò man mác, trầm tư, sâu lắng giữa đêm khuya. Ði chơi bằng thuyền để được ngắm cảnh Hương Giang thơ mộng, nghe những điệu hò, dân ca xứ Huế lúc trời đêm thanh vắng là thú vui muôn thuở của bao lớp du khách...

Quang cảnh đôi bờ sông, nào thành quách, phố xá, vườn cây, chùa tháp... bóng lồng mặt nước phản chiếu lung linh làm cho dòng sông đã yêu kiều càng nên thơ, nên nhạc.
Sông Hương

Nhiều người nghĩ rằng sở dĩ Huế có được cái êm đềm, dịu dàng, yên tĩnh phần lớn là nhờ sông Hương, dòng sông xanh đã đem lại cho thành phố cái chất thơ trầm lắng, cái trong sáng hài hoà toả ra từ vùng đất có chiều sâu văn hiến.

23 thg 11, 2010

Động Phong Nha - chốn thần tiên

23 thg 11, 2010 - by Ana · - 0 Comments

Giấu mình trong núi đá vôi được che chở bởi những cánh rừng nhiệt đới, Phong Nha giờ đây đã trở nên nổi tiếng bởi sự hào phóng của tạo hoá đã ban tặng cho vùng đất này một hệ thống hang động thật lộng lẫy với con sông ngầm được xác định là dài nhất thế giới.
Ðộng nằm ở vùng núi đá vôi Kẻ Bàng, cách thị xã Ðồng Hới 50 km về phía tây bắc. Từ Ðồng Hới, đi ô tô đến xã Sơn Trạch, sau đó đi thuyền trên sông Son, khoảng 30 phút thì đến động. Chỉ cách đây vài năm, đây còn là một con đường đất đỏ, mưa thì lầy lội, nắng thì bụi bẩn. Nơi mà một thời bom đạn chiến tranh đã không chừa một tấc đất, một nhành cây, một ngọn cỏ. Nhưng giờ đây, chính con đường này đã thổi một luồng sinh khí mới cho bộ mặt của cả vùng núi hoang sơ này.

Nếu như đấng tạo hoá đã tạo ra con người thì hình như chính tạo hoá lại chở che cho chúng. Trải qua bao cuộc chiến, Ðộng Phong Nha vẫn còn đó, nguyên sơ như hàng triệu năm về trước.
Những làng quê yên bình nằm xen kẽ giữa những lùm tre thấp thoáng mái nhà nâu đỏ bên hữu ngạn sông Son. Những O thôn nữ đứng gọi đò bên bến nước, những chiếc thuyền đưa khách ngước xuôi, chào hỏi nhau bằng ngôn ngữ của nhiều vùng làm sống động cả bến sông. Thuyền cập bến cũng là lúc du khách bắt đầu một cuộc hành trình khám phá một mê hồn cung giữa chốn đời thường.
Ðộng Phong Nha có rất nhiều nhánh với chiều dài lên đến khoảng trên 20 km, nhưng hiên nay người ta mới khám phá nhánh dài nhất là một phần của con sông ngầm có tên là Nậm Aki mà sông Son là phần lộ ra mặt đất, nó chui ngầm dưới đất ở vùng núi Pu-Pha-Ðam cách đó hơn 20km về phía Nam. Trước cửa động, cảnh núi non sông nước càng thêm quyến rũ, thiên nhiên hùng vĩ với vô vàn hình ảnh kỳ thú hiện ra như khêu gợi trí tưởng tượng của con người. Người ta đã khéo đặt tên cho cảnh đẹp nơi đây là Ðộng Phong Nha (Ðộng Răng Gió). Vào mùa nước lớn. nước sông Son dâng cao che khuất cửa hang, thuyền du lịch không vào đây được. Tương truyền hơn một trăm năm về trước, ông vua trẻ Hàm Nghi đã ẩn mình ở đây cùng một số cận thần và ra lời kêu gọi Cần Vương.

Cửa động rộng khoảng 20 mét, cao 10 mét, có nhũ đá lô nhô. Bơi thuyền qua cửa hang, động rộng như một cái bát úp trên mặt nước. Nước sông trong veo và phẳng lặng như mặt gương, càng vào sâu ánh sáng càng nhạt dần rồi mất hẳn. Xen lẫn với tiềng mái chèo như có tiếng chiêng "bi ...tùng ...bi" vẳng lên, người bản địa cho rằng đó là âm nhạc trong tiệc riệu của Thần Núi vọng ra... tất cả hợp thành tiếng nhạc, lúc âm u như tiếng chiêng, lúc bập bùng như tiến trống. Ðộng chính của động Phong Nha gồm 14 buồng nối liền bởi một hành lang nước dài đến 1500m. Từ buồng thứ 14 ta còn có thể theo những hành lang hẹp khác đi vào sâu hơn nữa đến những buồng cũng to rộng không kém nhưng có phần nguy hiểm hơn, nơi mà quá trình phong hoá đá vôi vẫn còng tiếp tục. Thuyền ngược dòng độ 800m thì đến chỗ cạn gọi là Hang nước cạn: nước biến đi nhường chỗ cho đá cát. Nhũ đá từ trên rủ xuống, măng đá từ dưới nhô lên tua tủa như cây rừng với những hình dáng kỳ lạ kịch thích trí tưởng tượng.
Phong Nha không giống như những điểm du lịch khác ở Việt Nam, động nằm trong khu rừng nguyên sinh Kẻ Bảng dường như còn nguyên sơ và tinh khôi. Trong con mắt của những vị du khách du lịch, những cư dân bản địa nơi đây mang một phong cách rất riêng "Họ cư xử thân thiện và tình cảm mang tính cách của người nông dân thuần kiết hơn là nhìn nhân du khách như là một cơ hội để tìm kiếm nguồn tài chính. Ðiều này càng làm cho Phong Nha thêm hấp dẫn khách du lịch".
Tháng 4 - 1997, một cuộc hội thảo khoa học về di tích danh thắng Phong Nha - Xuân Sơn được tổ chức tại Quảng Bình. Kết quả nghiên cứu khảo sát cho biết Phong Nha có 7 cái nhất:
1. Hang nước dài nhất
2. Cửa hang cao và rộng nhất
3. Bãi cát và đá rộng đẹp nhất
4. Hồ ngầm đẹp nhất
5. Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất
6. Dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam (13.969 m)
7. Hang khô rộng và đẹp nhất.

Hà Nội giai đoạn giao thời những trang du ký

- by Ana · - 0 Comments

Kiến trúc Hà Nội qua từng thời kỳ



1. Dấu tích những đổi thay của một Hà Nội giai đoạn giao thời cho đến nay vẫn còn lẩn quất đâu đó. Hình ảnh những công trình kiến trúc ở Hà Nội do người Pháp xây dựng được nhìn thấy ở nhà hát lớn thành phố, ở cây cầu Long Biên cổ tích, ở tuyến đường sắt kéo dài từ Bắc chí Nam, ở toà thị chính… Những hình ảnh ấy đến nay vẫn chưa hề xoá nhoà. Nó là chứng tích của một giai đoạn lịch sử mà người dân Việt Nam đã phải gánh chịu biết bao mất mát đau thương, là giai đoạn mà người Pháp là chủ nhân còn người dân An Nam chỉ là thân phận nô lệ.
Hà Nội trước khi người Pháp đến là một đô thị thuần phác với văn minh lúa nước là chủ yếu, công thương nghiệp phát triển chậm, mang tín chất nhỏ lẻ. Khi người Pháp xuất hiện và bắt tay vào công cuộc chỉnh trang đô thị, trước tiên để phục vụ cho nhu cầu của người Pháp sinh sống trên đất Hà Nội, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa tiến triển nhanh chóng, thì bộ mặt đô thị Hà Nội dần đổi khác. Có lẽ không nơi đâu ghi lại một cách sinh động những thay đổi ấy của Hà Nội bằng những trang du ký của người Việt và của người Pháp viết về Hà Nội giai đoạn giao thời.














2.1. Hà Nội vận động đổi thay từ một đô thị cũ sang đô thị kiểu mới
Người Pháp có mặt ở Hà Nội từ rất sớm. Những người đầu tiên có mặt ở xứ Bắc kỳ là những thương nhân, nhà truyền đạo sau đó là đội quân viễn chinh hùng hậu của thực dân Pháp. Tuy nhiên, sự có mặt của người Pháp để dẫn đến những đổi thay về nhiều mặt của Hà Nội phải đến giai đoạn giao thời. Sự đổi thay ấy đã được nhiều nhà nghiên cứu sử học tìm hiểu. Để có cái nhìn toàn diện hơn về Hà Nội giai đoạn này có lẽ ta nên tiếp cận những tài liệu du ký do người Pháp ghi chép lại. Những tác phẩm du ký của người Pháp viết về Hà Nội giai đoạn giao thời đã được xuất bản không phải nhiều nhưng đã cung cấp cho người đọc những cứ liệu quý giá về một Hà Nội dưới nhãn quan của những người đại diện cho đội quân xâm lược. Đó cũng là một góc nhìn đáng để chúng ta quan tâm tìm hiểu.
Trước khi người Pháp đến, Hà Nội chưa phải là một đô thị theo đúng định nghĩa của nó mà theo người Pháp: “Nói đúng ra, Hà Nội 1873 không phải là một thành phố mà là một điểm dân cư hỗn hợp, trong đó khu hành chính, khu buôn bán và nhiều làng được đặt bên cạnh nhau trong một khu vực kín” (1; 20). Hà Nội giai đoạn này chưa phải là một đô thị thuần nhất mà chẳng qua là nơi hội tụ buôn bán của các làng hay nói cách khác đó là một đô thị kiểu nông thôn.
Sự đổi thay của Hà Nội bắt đầu bằng việc người Pháp xâm lược, chiếm đóng Hà Nội. Họ tiến hành phá bỏ những kiến trúc cũ của đô thị Hà Nội để xây dựng kiến trúc mới. Bất kỳ một quốc gia đi xâm lược nào khi đặt nền thống trị của mình lên quốc gia khác cũng muốn biến quốc gia đó trở thành một đứa con do mình đẻ ra. Người Pháp cũng vậy, họ muốn biến Hà Nội thành một đứa con lai căng của nước Pháp (Pháp tự xưng mình là “mẫu quốc” còn An Nam là nước “bảo hộ”). Vì vậy, ngay khi bình định xong miền Bắc, thực dân Pháp tiến hành ngay công cuộc cải biến quốc gia An Nam nói chung, Hà Nội nói riêng thành “cái vú sữa” phục vụ cho chính người Pháp. Do đó, những thay đổi của đô thị Hà Nội trước tiên là do nhu cầu của chính quốc chứ không phải nhu cầu bức thiết của người dân An Nam trên đường phát triển của mình.
Vậy người Pháp đã làm thay đổi những gì ở Hà Nội?
Ngay từ khi bước chân người Pháp đặt lên đất Hà thành đã kéo theo những thay đổi lớn lao của đất kinh đô ngàn năm văn hiến. Người Pháp đánh chiếm Hà Nội hai lần, lần thứ nhất vào năm 1873, kéo dài thời kỳ lãnh sự, tức người Pháp chỉ đặt trú sứ ở đất kinh kỳ chứ chưa hề can thiệp vào công việc nội bộ của Bắc kỳ. Thời kỳ này kéo dài đến khoảng năm 1882. Sau đó, Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai và đặt nền bảo hộ của thực dân lên toàn bộ lãnh thổ Bắc kỳ.
Nơi người Pháp đặt chân đến đầu tiên đó là Trường Thi. Đây là địa điểm mà triều đình phong kiến tổ chức những kỳ thi quan trọng của quốc gia nhằm tuyển chọn nhân tài phục vụ cho đất nước. Khi xâm chiếm được Hà Nội lần thứ nhất, Francis Garnier đã ký cùng với triều đình nhà Nguyễn bản thoả thuận cho phép người Pháp tạm thời đóng quân ở Trường Thi cho đến năm 1876. Vì khi đó diễn ra kỳ thi hương, quy tụ hàng chục ngàn người ở khắp nơi đổ về. Sự có mặt của người Pháp ở nơi đây đã làm biến đổi nghiêm trọng bộ mặt cũng như ý nghĩa của Trường Thi. Đây là nơi diễn ra những kỳ thi long trọng bậc nhất của Bắc kỳ tức là một nơi tôn nghiêm, kính cẩn lại diễn ra những cảnh tượng trái tai gai mắt: “Những trận mưa như thác vào tháng chín biến Trường Thi thành một bãi lầy mênh mông. Nước trong nhà nhiều đến nỗi binh linh giặt quần áo ngay trước cửa”. (36, Massan). Như vậy, khi bắt đầu đặt bước chân đầu tiên vào thành Hà Nội, thực dân Pháp đã có mặt ở một nơi mà triều đình phong kiến hết sức coi trọng, biến nó thành một trại lính ô hợp. Tính chất nghiêm cẩn của Trường Thi đã giảm đi nhiều lần. Kéo theo đó, tất cả những kỳ thi diễn ra sau này với sự có mặt của người Pháp cũng mất đi rất nhiều giá trị và ý nghĩa.
Khi Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai, chúng đã tiến hành những thay đổi tiếp theo. Khác với lần chiếm Hà Nội trước, lần này người Pháp muốn thay đổi toàn diện bộ mặt Hà Nội theo kiểu Pháp, phục vụ cho người Pháp. Đối tượng nhắm đến lúc này là thành Hà Nội. Người Pháp cho phá thành Hà Nội với cái tên nhà thầu được Nguyễn Khuyến nhắc đến trong câu đối của mình đó là cô Tư Hồng, cô Tây thành tư bản: “Khoảng năm 1895 nó cho đấu thầu phá thành Hà Nội. Một nhà thầu là cô Tư Hồng, cô Tây thành tư bản. Chỉ để lại cửa Bắc với 2 vết đạn để khoe rằng pháo đại bác Pháp bắn tài” (3; 15). Thành Hà Nội được xây dựng từ năm 1805 dưới thời Gia Long để nhằm bảo vệ đô thành nơi: “… Ở trung tâm đất nước, cái thế rồng cuộn, hổ ngổi. Đất bằng phẳng, dân cư đông đúc, muôn vật phong phú, tốt tươi. Tật là một chỗ hội họp bốn phương, nơi đô thành bậc nhất của muôn thuở…” (3; 35). Thành Hà Nội là chứng tích cho sự hợp tác đầu tiên giữa Pháp-Nam những năm dầu thế kỷ XIX - do sĩ quan Pháp, bạn của Bá Đa Lộc thiết kế xây dựng theo kiểu pháp đài Vauban.
Sự thay đổi này của người Pháp mang tính chất tàn phá nhiều hơn là xây dựng. Bởi lẽ nếu thành Hà Nội vẫn còn thì chẳng khác nào triều đình phong kiến vẫn ở đấy. Chính vì thế, Henri Riviere đã cho phá thành mà chỉ chừa lại bức tường thành với dấu đại bác. Việc làm đó đã khiến cho Paul Doumer, quan toàn quyền Pháp ở Đông Dương, hết sức thất vọng nhưng không thể làm gì hơn vì sự việc đã rồi: “Tôi sang quá chậm để giữ lại những chỗ cần thiết. đặc biệt là các cửa thành đáng được giữ lại. Chúng có phong cách lớn quan hệ mật thiết với lịch sử đáng cho ta phải kính nể. Giống như khải hoàn môn Ngôi sao ở Paris. Các cửa đó sẽ làm đẹp cho các khu phố mà không cản trở giao thông và quy hoạch thành phố” (1; 79). Xét về ý nghĩa, thành Hà Nội là một nơi không kém phần quan trọng của triều đình phong kiến. Nói như Massan: “ … thành Hà Nội không chỉ là một pháo đài chính của Bắc Đông Dương mà còn là lỵ sở hành chính của một tỉnh lớn và thủ đô lịch sử Đàng Ngoài; nơi đóng đô của nhiều triều đại quốc gia trong nhiều thế kỷ” (2;59). Khi người Pháp đã trở thành chủ nhân của “ngôi nhà” Hà Nội thì việc làm của họ không nằm trong sự mong muốn của người dân An Nam. Nơi đế đô ngàn năm văn hiến của An Nam đã trở thành những gì mà người Pháp muốn. Đại uý Petrowey biến hoàng cung thành một pháo đài, “thay chiếc lan can chạm khắc bằng một bức tường trổ lỗ châu mai xấu kinh người” (1;75). Những việc người Pháp làm đối với thành Hà Nội chẳng qua là muốn khẳng định vị trí của người Pháp nơi đô thành An Nam, vị trí của người làm chủ.
Những thay đổi đáng kể nhất về mặt cảnh quan đô thị phải kể đến việc hình thành khu phố người Pháp phân biệt với khu phố An Nam nghèo nàn. Đó là việc làm mà người Pháp chỉ rõ vai trò người làm chủ nơi vùng đất đô hộ. Tuy nhiên, việc đó cũng đưa lại những điều lợi nhất định đối với người dân An Nam: lối sống tư bản phương Tây từng bước xâm nhập vào vùng đất nghèo nàn, lạc hậu An Nam, tạo ra một môi trường văn hoá mới lạ, văn minh hơn so với phố phường An Nam cũ kỹ, lạc hậu. Đó là luồng gió mát làm cho những người sống trên mảnh đất này cũng cảm nhận được sự đặc biệt của nó. Juless Boissiere có lẽ đã tự hào quá đáng khi viết về khu phố này nhưng cũng hàm chứa phần nào sự thật bên trong: “Giống như cô gái An Nam bỏ dần bộ quần áo xấu xí nhuộm cu nau (củ nâu) đẫm mồ hôi lao động, dân di thực chúng ta đã chứng kiến, năm này qua năm khác…” (1;157). Cũng cần nhìn nhận vấn đề một cách hai chiều, người Pháp xây dựng khu phố Pháp mục đích chính để phục vụ cho công dân Pháp, tách hẳn với khu phố của người An Nam mà cái gạch nối chính là Hồ Gươm. Sự đối nghịch về kiến trúc giữa hai bộ phận: người Việt và người Pháp trên cùng mảnh đất Hà Nội đã tạo ra sự khập khễnh trong kiến trúc đô thị Hà thành những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.
Điểm qua những đổi thay ở phố phường Hà Nội giai đoạn giao thời ta có thể thấy được bức tranh khái quát về đô thị này qua cái nhìn của người Pháp cũng như qua cái nhìn của một số người dân An Nam. Ở đó, có sự kết hợp nửa vời của hai người nghệ sĩ: hai phần là người nghệ sĩ An Nam với nét vẽ thô sơ, thuần phác của mình, một phần là nét vẽ nghệch ngoạc của người Pháp nhằm phục vụ cho cuộc sống riêng của kẻ cai trị, vô tình đã đi chệch với bố cục chung tổng thể. Tuy nhiên, cũng từ đó, đô thị Hà Nội dần dần biến chuyển và thay đổi theo lối kiến trúc hiện đại của người Pháp mà xoá dần những kiến trúc xưa đã hình thành bao đời. Đó cũng là tiến trình tất yếu của lịch sử phát triển xã hội.
2.2. Những biến chuyển trong lòng đô thị Hà Nội giai đoạn giao thời
Đó là những thay đổi ở bề mặt ngoài của đô thị còn những biến chuyển bên trong đời sống xã hội mới nhiều điều đáng nói. Quả thực bất kỳ sự chuyển mình thay đổi nào cũng đầy trăn trở, vật vã. Giữa cái cũ và cái mới phải đối chọi, phải đấu tranh với nhau, cái nào sẽ thống lĩnh xã hội, cái nào sẽ chấp nhận diệt vong? Những biến chuyển trong lòng xã hội mới tạo ra bao điều nhức nhối. Dường như lịch sử không còn con đường lựa chọn nào khác. Bánh xe vẫn lăn và con người phải nhoài người theo để tiếp cận với cái mới. Chưa biết cái cũ và cái mới cái nào tốt hơn nhưng trước mắt người dân nơi Hà thành phải lựa chọn một hướng đi.
Người Pháp vào Việt Nam, lối sống của người Châu Âu xâm nhập một cách từ từ vào tư duy, cách nghĩ, cách sống của người dân An Nam. Bắt đầu từ sự thay đổi trật tự các tầng lớp trong xã hôi. Nguyễn Công Trứ đã từng nêu rõ sự sắp xếp thứ bậc trong xã hội phong kiến:
Tước hữu ngũ sĩ vi kỳ liệt
Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên
Có giang san thì sĩ đã có tên
Từ Chu Hán vốn sĩ này là quý.
(Kẻ sĩ)
Nhưng từ khi người Pháp đặt bộ máy chính quyền cai trị lên đất nước An Nam thì tầng lớp kẻ sĩ đã không còn giá trị gì nữa. Đi cùng với bộ máy hành chính của người Pháp là sự ra đời của những giai cấp, tầng lớp mới. Những quan Tây, những người phục vụ cho chính quyền Tây: thầy thông ngôn, thầy ký, thầy phán… là những người được sống sung sướng, quyền cao chức trọng. Chính vì thế họ là nhữg người được bao nhiêu người khác phải mơ ước. Những cô gái mới lớn lên đều mơ ước được lấy những người này dù tiếng chê, tiếng cười để đời: “Về xã hội, cũng có những biến chuyển. Sính đi lấy ông huyện, bấy giờ mấy cô lấy “đốc tờ”, ít ra cũng làm bà tham; bà tham ăn lương tây “mới giá trị” (3;79). Tú Xương, thi hào dòng sông Vị đã từng khái quát hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ như sau:
Nào có ra gì cái chữ Nho,
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co.
Chi bằng đi học làm thầy phán,
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.
(Chữ Nho)
Trật tự đảo ngược như vậy đã gây nên bao thảm cảnh đối với người dân An Nam. Tất cả mọi miền đất nước đều diễn ra những cảnh tượng như vậy. Đặc biệt, với Hà Nội, một đô thành lâu đời của An Nam thì sự đổi thay thứ bậc trong xã hội còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng, thương tâm đến mức nào.
Đi cùng với sự thay đổi trật tự nấc thang trong xã hội là nạn phân biệt đối xử giữa người dân An Nam và người Pháp, giữa chính người An Nam với nhau. Claude Bourrin trong “Đông dương ngày ấy 1898-1908” đã thừa nhận: “Phải thừa nhận rằng 40 năm trước đây người Châu Âu sống mà không hề có chút quan tâm nào tới người bản xứ…” (2;53). “Tại các khu dân cư An Nam, chẳng có gì ngoài chấy rận và sự bẩn thỉu; sự cao nhã chỉ thấy trong rạp, nơi mấy người thông ngôn ngồi thư giãn giữa các loại xương vãi dưới đất” (2;54). Đi cùng với việc phân biệt nơi sinh sống giữa hai sắc tộc thì sự phân biệt đối xử cũng thể hiện vô cùng rõ ràng và cay nghiệt: “Để cụ thể hoá cái hố ngăn cách người Pháp với đám dân nghèo mạt, tôi nhớ rõ lúc đó cảnh sát bắt giữ bất cứ người An Nam nào tìm trong nhà có các đồ vật làm ở Châu Âu như thìa, dĩa, đèn, khăn ăn, đồng hồ quả lắc, quần áo… Nếu cho người bồi một cái đồng hồ để đi làm đúng giờ, người chủ phải cho anh ta một giấy chứng nhận. Thậm chí một đôi giầy kiểu Châu Âu cũng là một thứ xa xỉ người An Nam không thể nào có được” (2;55).
Thật không dễ dàng để chấp nhận những đổi thay quá nhanh chóng nơi đất Hà thành! Hoàng Đạo Thuý đã chấp bút kết luận một câu: “Cảnh tượng mới của phố, đến láo nháo” (3;79).
Sự “láo nháo” trong lòng đô thị Hà Nội không chỉ diễn ra ở những đổi thay về giai tầng trong xã hội mà ngay cả phố phường cũng nhuốm đầy hoen ố của những cặn bã văn minh. Cảnh tượng láo nháo của phố phường Hà Nội được làm rõ qua âm thanh đêm khuya thanh vắng. Bên cạnh những âm thanh của cảnh vật tự nhiên: “Thời tiếng giun tiếng dế trong bãi cỏ, tiếng sát sành nắc nẻ trong bụi cây, mà trên cành cao lại thánh thót tiếng con chim cú;…” (4;267), là âm thanh hoạt động huyên náo của con người: “lác đác tiếng xe tay trên đường đưa đến; lại tiếng chuông xe song mộ ai loong coong cùng tiếng chân ngựa lốp cốp, với tiếng ô tô ù ù kèn bóp te te; song chốc lát tại tĩnh, chỉ còn tiếng dế kêu, giun rúc, sát sành nắc nẻ vỗ cánh, đập chân, con cú nọ rên rỉ gớm ghiếc! Xa xa văng vẳng tiếng chó cắn bốn bề, tiếng gà gáy nửa đêm, thỉnh thoảng lại giật mình vì tiếng người kêu ông “cẩm”: cậu xe bị quỵt, cô đĩ mắc lừa, du côn say rượu, thầy quyền gió tẳng, đánh “oái” lên rồi lại thấy thoi ngay! Rồi tiếng đàn bầu, đàn nguyệt đằng sau lưng, tiếng reo hát cười cợt xen tiếng lóc nhóc chuyển động của những chiếc xe cao su, mà các ông lính tây ở các “ô-ten” đi về trong trại. Lời văng tục của những kẻ hạ đẳng đi khuya, tiếng chửi nhau của những phường kiếm ăn đêm tối, tiếng lũ phu thùng, tiếng xe chở uế!” (4;264). Ngay cả ban đêm cũng không thể tìm thấy phút giây yên tĩnh. Đêm khuya trở thành cái nền che chở cho những hành vi, sự việc không mấy tốt đẹp được diễn ra một cách trôi chảy. Vì vậy, không có một thói xấu xa, đồi truỵ nào không được phô bày ra trên đường phố vào lúc nửa đêm. Cả người An Nam lẫn người Tây đều đua nhau ăn chơi, hành lạc trong sự bát nháo của xã hội. Hà Nội lại là nơi tập trung, quy tụ tất cả những cái rác rưởi của một xã hội văn minh nửa vời, cả những thói rởm đời, ti tiện. Nếu công luận nghiêm thì những thói xấu không thể tồn tại lâu. Nhưng ở giai đoạn này, người ta cũng không thể xác định được đâu là cái chuẩn mực thì những cái xấu nghiễm nhiên song hành với cái tốt thậm chí cái tốt cũng chẳng còn đất sống.
Bên trong lòng xã hội như vậy, những cảnh tượng trái tai gai mắt diễn ra như thói thường: “Ôi! Đến chỗ kia là chỗ chi chi, mà trai đôi gái cặp cùng nhau trơ trẽn ra vào, cười tiền, hôn bạc, yêu dối, tình vờ; làm cho tinh thần trác táng, thân thể hao mòn, gây nên bệnh hoạn, gia đình bởi đó mà hỏng, phong hoá bởi đó mà suy, quốc gia bởi đó mà không còn nguyên khí! Thương thay! Cho cái lòng dục của con người ta vốn sẵn có từ trời cũng như con vật, thế mà không lấy cái đạo đức để hạn chếnó lại, thời người ta với thú có khác gì?” (4;266). Người ta không còn biết đến sự tốt xấu, khen chê của người đời nữa khiến Hội Nhân phải thốt lên lời than thống thiết cho sự đồi bại của xã hội đương thời: “Đau đớn thay! Cho cái thói Trịnh Vệ, nhục nhã thay! Cho kẻ lẫn ái tình. Nào cái tình nó có tội đâu, chẳng qua chỉ tội ở những đứa nó làm cho nhơ nhuốc bẩn thỉu cái tình mà thôi! Cái thói xấu ấy ở nước ta thật là mới có mấy năm nay vậy. Ai ơi! Xin nghĩ cách nào mà trừ bỏ nó đi kẻo bẩn mắt, dơ tuồng, hại cho phong hoá…” (4;267)
Trong du ký, qua cảnh vật người ta có thể hình dung ra sự thay đổi của bộ mặt xã hội cũng như những biến chuyển trong lòng xã hội. Chỉ một đoạn như thế này cũng đủ thấy Hà Nội giai đoạn giao thời đã dời ngôi đổi chủ như thế nào: “Để mắt về phía núi Bút Tháp, cửa Nghiên Đài thời chỉ thấy lù lù đen trông như cái đống, mà cầu Thê Húc cũng không tỏ chút nào; cố nhận ra mới biết chốn đền Ngọc Sơn thời mường tượng như một cái đình của dân nào ngày lụt ở ruộng đầu làng; mà cái tháp Báo Thiên ở giữa hồ thời chẳng khác cái miếu trên nấm đất cao giữa cánh đồng chime. Mặt nước thời long lanh song gợn coi như những cái vẩy con rồng ngày hội Chánh trung, thỉnh thoảng có con cá quẫy cùng lớp cồn to; sen thì ở bên kia, phía này không có, muốn ngửi hương mà chẳng được vừa lòng!” (265) Triều đại phong kiến đã mất đi giai đoạn huy hoàng, những chứng tích cũ ghi dấu lịch sử phong kiến ngàn năm dường như cũng lu mờ, ủ dột trong cái nhìn của người ngắm cảnh. Những nét đẹp của cảnh vật cũng đã bị những: “…thời nhà cửa lô xô, lâu đài ngan ngát, dây chằng như mắc cửi, cột dựng như cắm chông…” (266) hoàn toàn che lấp.
Trong hoạt động giáo dục, xưa kia, xã hội phong kiến trọng người có học, coi trọng cái chữ, vì thế nhà nhà đều mong muốn con trai của mình học hành đỗ đạt để thi thố với đời, để làm rạng danh tông tổ. Thì đến giai đoạn giao thời, chữ Nho đã không còn giá trị, hệ thống trường ốc của thời phong kiến không còn là nơi tới lui của những người yêu chữ nghĩa. Bên cạnh đó, hệ thống trường học của người Pháp thì chẳng được quan tâm xây dựng. Hà Nội giai đoạn này các trường học dường như trống vắng: “Người Pháp nêu chiêu bài là “đi khai hoá”, nhưng đến Hà Nội ba mươi năm, cũng chỉ mở được một Trường tiểu học phố hàng Bông, mãi sau mới thêm một trường nữa ở hàng Đào. Người ta bảo: “học gì mà lại học “la vát” là “con bò cái”; chả là quen học một chữ đã là nghĩa lý tồi mà. Dân ta không chịu cho con em đi học. thúc ép, thì góp tiền thuê người đến ngồi ở trường cho qua chuyện. sau lại có trường Mã Mây và trường Thông ngôn ở bờ sông. Biết rằng học cũ, lúc ấy, là ổ chống đối, nó sửa dần. Ròi bỏ hẳn các kỳ thi hương. Lúc ấy thì các trường mới của thực dân mới có nhiều trò hơn” (3;32,33).
Có thể nói, những biến đổi về mặt xã hội ở Hà Nội giai đoạn giao thời diễn ra một cách mạnh mẽ và đầy khốc liệt. Những nền tảng đạo đức cũ đã mất đi, cái mới vừa hình thành chưa rõ hình khối đã bị bóp méo, lệch lạc làm cho xã hội đầy rẫy những cảnh tượng đau lòng. Người dân An Nam từ thân phận làm chủ đã trở thành nô lệ, bị phân biệt đối xử ngay trên chính mảnh đất quê hương của mình. Người Pháp, chủ nhân mới của Hà Thành nhưng không muốn xây dựng mà muốn đầu độc nưgời dân bằng những thứ tệ nạn như: thuốc phiện, rượu chè, đĩ điếm… làm cho người dân sa đoạ để dễ bề cai trị, đồng hoá. Du ký quốc ngữ giai đoạn giao thời đã ghi lại một cách khách quan nhất những hiện tượng xã hội đó.
2.3. Tình cảm của người viết du ký dành cho Hà Nội
“Chao ôi! Cái thú đi du lãm, cũng là cái thú chung của nhân loại, không phải là cái thú riêng của một mình ai; duy những người có tâm tình với non nước, có ý vị với thế đạo với nhân tâm, trong khi du lãm, sẽ có cái thú vị riêng vậy” (4;367). Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục thổ lộ quả không sai. Chỉ những người có tình cảm thiết tha với non sông, gấm vóc mới có được những cảm nhận sâu sắc về cảnh vật và những tình cảm đó không thể nào giấu giếm được khi đọc du ký mà họ đã trãi nghiệm cùng cảnh vật.
Nếu như đọc du ký của người nước ngoài viết về Hà Nội ta có thể hình dung những biến đổi về kiến trúc đô thị Hà Thành những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX thì đọc những trang du ký của người Việt viết về Hà Nội giai đoạn giao thời ta có thể thấy được tình cảm thiết tha của các tác giả dành cho mảnh đất này. Tình cảm ấy được thể hiện bằng niềm tự hào về lịch sử đất cố đô qua những chứng tích lịch sử như: thành Cổ Loa, núi Tuý Vân, núi Tử Trầm, hồ Hoàn Kiếm… Bên cạnh những tàn phá mà thực dân Pháp không ngại ngần thực hiện đối với mảnh đất Hà thành thì các tác giả viết du ký vẫn tìm được những nét đẹp không dễ gì xoá được của những công trình, kiến trúc lịch sử, những kiến tạo của thiên nhiên dành cho mảnh đất ngàn năm văn hiến. Những nét đẹp đó đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt nói chung, người dân Hà Nội nói riêng.
Trong bối cảnh mà thực dân Pháp đang nỗ lực mọi cách để thực hiện chính sách đồng hoá thì những du ký viết về lịch sử có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Nó có tác dụng khơi dậy hào khí dân tộc một thời đồng thời thể hiện tình cảm yêu quê hương tha thiêt của các tác giả viết du ký. Tùng Vân ca ngợi di tích Cổ Loa trong niềm tự hào của người dân đất Việt, yêu sử Việt, yêu những chứng tích lịch sử của người Việt: “Lại người bình sinh đã từng xem đọc đến quốc sử, tư tưởng đến quốc hồn, biết rằng cha ông mình không đến nỗi là ươn hèn, non sông mình không đễn nỗi là tịch mịch; đọc đến cái lịch sử công nghiệp, thì trong lòng như gợi như khơi; đọc đến cái lịch sử tâm tình, thì trong dạ như đau như thắt.” (4;492). Những cuộc lãng du trở về với nguồn cội của những văn nhân như Tùng Vân, Phạm Quỳnh, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Háo Vĩnh, Phạm Văn Duyệt “cũng là vì chút cảm tình với lịch sử mà đi chơi vậy” (4;492). Là người đất Việt yêu lịch sử người Việt, là người Hà Thành gắn bó với chứng tích lịch sử của Hà thành, trong nguồn mạch chung vẫn chảy những mạch ngầm riêng, chính điều đó đã khiến những dòng du ký viết về lịch sử Cổ Loa của Tùng Vân trở nên có hồn và đầy trữ tình.
Trở về với cảnh đẹp quê hương cũng là một cách thể hiện tình cảm đối với mảnh đất mình chôn nhau cắt rốn của các tác giả viết du ký. Hà Nội quả thật không thiếu những cảnh đẹp. Nếu như những công trình kiến trúc nhân tạo để lại niềm kiêu hãnh về lịch sử dân tộc cho những người con đất Hà thành thì những công trình kiến tạo của thiên nhiên đem lại sự say mê vô tận cho người ngắm cảnh. Cũng cảnh vật đó, bao lần ta nhìn ngắm, bao lần ta trải nghiệm nhưng mỗi lần trở về với cảnh là mỗi lần ta thấy gắn bó không thể dứt lìa. Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục tìm thấy sự thú vị ở núi Tử Trầm với tư cách một người gắn bó tha thiết với cảnh đẹp: “Chao ôi! Núi Tử Trầm kia có xa gì đâu, nhà ta ở đối với núi Tử Trầm, chỉ cách một cánh bãi, một con sông, một phía đồng, khi sớm ngày trở dậy mở cửa, trông ra phía tây nam, đã thấy sơn sắc mông lung ở đó; mà hang Tử Trầm kia, cũng vẫn là cái hang ta mấy năm về trước ra vào thăm chơi;...” (4;365).
Cảm xúc tràn đầy về danh thắng Tuý Vân đã đưa ngòi bút của Nguyễn Bá Kỉnh tha hồ trôi chảy trên dòng sông thơ. Chỉ chưa đầy ba trang du ký mà tác giả đã phóng bút làm nên 4 bài thơ tả cảnh đẹp của Tuý Vân. Bấy nhiêu đủ thấy niềm yêu mến cảnh vật chất chứa tự nhiên trong lòng của tác giả. Nói rằng “bận việc học hành, theo đường danh lợi, cho nên cũng ít khi lãm tuý tầm u” (4;410) nhưng cảm tình đối với cảnh thì đã ngụ sẵn trong lòng. Vì vậy, khi đối diện với cảnh lòng không khỏi bồi hồi cảm xúc:
Gởi với non sông tiếng nhỏ to,
Người về nhớ cảnh mặt buồn xo.
Cuộc vui này đợi năm sau hử!
Hứng bãi thuyền lui mái gã du. (4;412)
Người về mà vẫn luyến lưu với cảnh, hẹn một ngày sẽ trở lại tương phùng. Đó là mối tình gắn bó keo sơn của người con đất Việt với thắng cảnh nơi đế đô. Tình cảm đó dường như càng mãnh liệt hơn khi mảnh đất ấy đang mỗi ngày một đổi thay bởi gót giày xâm lược của những kẻ đến từ phương trời xa lạ.
Phố phường Hà Nội là nguồn cảm hứng vô tận của bao tao nhân, mặc khách. Có lẽ ai một lần đặt chân đến mảnh đất này cũng đọng lại trong lòng những cảm xúc riêng. Ngay cả người Pháp, những người theo chân đội quân xâm lược đến Hà Nội cũng không kiềm lòng được bởi sự thăng hoa của những tình cảm khó tả. Phải gắn bó với Hà thành thì họ mới có được nguồn cảm hứng vô tận để viết những trang du ký có giá trị về mảnh đất này như thế. Ta không mấy ngạc nhiên khi Claude Bourrin đã reo vui khi được tao ngộ với Hà Nội sau bao tháng ngày xa cách vì công việc nơi biên giới: “Hà Nội! Ôi vui sướng biết bao gặp lại nó sau một năm phải lưu đày nơi biên giới. Hà Nôi! Nơi đây cuộc sống náo nhiệt về đêm tràn ngập ánh đèn của các hiệu cà phê và các cửa hàng, phố xá tráng lệ đầy nghẹt người” (2;93). Những dòng xúc cảm như thế trong du ký của người nước ngoài viết về Hà Nội giai đoạn giao thời quả thật rất hiếm hoi bởi sự gián cách về nhiều phương diện: tình cảm, quan niệm về cái đẹp, tư tưởng của kẻ cai trị… Tuy nhiên, trong góc sâu tâm hồn của người viết vẫn ẩn chứa một mối cảm tình nhất định đối với mảnh đất mà mình cùng trãi nghiệm qua bao thời gian.
Nghiên cứu du ký viết về Hà Nội giai đoạn giao thời không thể bỏ qua khía cạnh cảm xúc của người viết đối với cảnh vật. Đó là một thoáng lắng đọng trong tâm hồn người viết khiến tác phẩm trở nên gần gũi với người đọc. Cũng là nơi người đọc và người viết tìm thấy sự giao hoà trong suy nghĩ, tình cảm.
3. Tìm về những trang du ký xưa viết về đất Hà thành những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX chúng ta không khỏi bồi hồi trước những biến cố lớn lao mà mảnh đất đế đô trải qua. “Ôn cũ, biết mới. Xây dựng một xã hội mới, cũng nên biết cái nền trên đó mình xây, nó như thế nào. Biết những cái vẻ vang, cũng biết cả những nỗi nhọc nhằn của ông cha ta thì mới rõ đời ta bây giờ là quý làm sao, mới hiểu cái giá trị của đất hương hoả nay trao đến tay ta”. (3;7) Lời mở đầu cho tập du ký Phố phường Hà Nội xưa của Hoàng Đạo Thuý đã khẳng định giá trị của những chứng tích lịch sử trong quá trình phát triển xã hội. Hà Nội ngày nay đã ào ạt phát triển cũng với nhịp điệu phát triển của đất nước nhưng giai đoạn đau thương thời Pháp thuộc vẫn không xoá nhoà được trong ký ức của dân tộc. Giai đoạn lịch sử ấy đã ghi dấu sâu đậm trên những trang du ký và vẫn còn mãi với thời gian.

Blogroll

VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

Vanhoanguoiviet.com muốn gửi tới cho các bạn phong tục, tập quán,làng nghề, trang phục cũng như món ăn cổ truyền của người Việt từ xưa tới nay.

Được phát triển bởi Nguyễn Hiền|