20 thg 3, 2014
|
Vợ chồng Ama Tách kể về tục ngủ thảo.
|
|
|
|
Ngôi nhà sàn truyền thống của người Raglai.
|
|
|
|
Một gia đình người Raglai ở Bác Ái.
|
|
Vẻ đẹp hoang sơ trong khu vực sinh sống của người Raglai.
|
|
|
|
Phụ nữ Raglai đi rẫy về.
|
|
|
|
Những ngôi nhà mồ của người Raglai.
|
16 thg 3, 2014
Người Mông ở Mèo Vạc (Hà Giang) ngoài tục chặn đường cướp dâu còn có tục vỗ mông để chọn bạn đời. Đầu năm, trai gái Mông háo hức sắm sửa quần áo đẹp đi chơi xuân. Trên các bãi đất trống, trai gái thi nhau thổi khèn, ném còn giao duyên.
Thích cô gái nào đó, chàng trai vỗ vào mông thiếu nữ coi như tỏ tình. Nếu ưng cái bụng thì cô gái vỗ đáp lại. Hai người vừa đi vừa vỗ đến khi đủ 9 cặp thì thôi, sau đó họ tìm chỗ ngồi tâm sự riêng. Người Mông quan niệm mỗi bên phải vỗ mông đủ 9 lần thì lời tỏ tình mới được công nhận. Sau đó, chàng trai tìm người mai mối và họ chính thức nên duyên vợ chồng.
Hai bên phải vỗ vào mông đối phương đủ 9 lần thì lời tỏ tình mới được chấp nhận . Ảnh: TL.
|
Đàn ông Mông thường chọn người vợ biết thêu thùa, khâu vá. Ngoài ra, cô gái phải có dáng to khỏe, bắp chân săn vồng, mông to nhún nhảy trong làn váy theo mỗi bước đi vì những người đó khéo làm lụng và chăm con.
Nơi một tháng chỉ được cưới hai ngày
Thị trấn Yên Lạc (Vĩnh Phúc) là địa phương duy nhất của cả nước có quy ước cưới xin. Ngày dạm ngõ, ngày cưới được quy định rõ ràng. Đám cưới ở đây chỉ được tổ chức vào hai ngày trong tháng là mùng 2 và ngày 16 âm lịch. Quy ước còn quy định cụ thể cách tổ chức cưới "Không làm sân khấu, không dùng loa nén, không cổng chào, dùng các loại bóng điện thường thắp sáng, tiết kiệm chi tiêu, không tổ chức ăn lại mặt sau cưới...".
Với 80% dân số làm nghề mộc, mức sống của người dân thị trấn khá cao. Vào ngày được cưới, cả thị trấn đóng cửa xưởng, người dân gác việc nhà đổ xô đi ăn cỗ. Cả chục đôi uyên ương cưới cùng một ngày khiến cho việc đi ăn cưới ở đây giống một ngày hội.
Dù quy ước còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng đã thành lệ, thành thói quen nên người dân nghiêm túc thực hiện, không có đám nào phá lệ. Chỉ có đám thanh niên là không đồng thuận, vì cho rằng cưới không hát hò, loa đài thì buồn và bị trai làng khác chọc khoáy là kém chịu chơi. Nhưng lệ ông cha đặt ra nên họ đành phải chấp nhận.
Tục rước dâu ban đêm của người Thái ở Nghệ An
Trước khi bước vào cửa nhà chồng, cô dâu sẽ được làm lễ rửa chân kỹ càng. Ảnh: TL.
|
Đúng 22h đêm, đoàn rước nhà chú rể bắt đầu lên đường. Ngoài lễ vật thì nhà trai phải chuẩn bị một cái chiêng để vừa đi vừa gõ, xua đuổi tà ma và thông báo cho cả làng biết người con gái trở thành con nhà mình.
Khi đến nơi, cổng nhà gái đóng kín. Cô dâu đứng trong hát "Cổng nhà tôi then nào cũng dài/ Đố anh biết cái này gỗ chắc?". Chú rể buộc phải vượt qua thử thách màn hát đối đáp giao duyên thì mới được mở cổng cho vào.
Bước vào sân, chú rể bị người nhà cô dâu té cả xô nước vào người. Đây là tục lệ "rửa tội" và cũng để thử thách lòng kiên nhẫn của chàng trai. Qua được màn này, chú rể bước lên nhà và tiếp tục vượt qua các vòng hát đối đáp khi người nhà cô dâu mời ngồi, mời trầu. Nội dung màn hát kể những gian lao, vất vả của hai họ khi nuôi nấng cô dâu, chú rể trưởng thành khiến cuộc rước dâu thêm tưng bừng. Người Thái hay hát đối đáp nhằm kéo dài thời gian, chờ thời khắc để rước dâu và cũng là giữ gìn phong tục của người xưa.
Thời khắc rước dâu đã điểm, cô dâu bước ra khỏi nhà. Về đến nhà chú rể, cô sẽ được mẹ chồng chờ sẵn với chậu đồng đựng nước suối trong, có ngâm đồng xu bạc. Bà sẽ rửa chân cho con dâu vào nhà và trao vòng bạc may mắn. Sau đó, đôi trẻ trao vòng cưới và thề hẹn thủy chung suốt đời.
Điều đặc biệt trong đám cưới nơi đây, dù lấy chồng gần hay xa thì cô dâu cũng phải đi bộ. Đôi trẻ dẫn đầu, đoàn người cứ thế đi trong sương lạnh nhưng ấm tình người.
Theo tục lệ của người Chu Ru, sau khi chàng trai đồng ý đeo nhẫn,
cô gái dâng chiếc khăn tự tay dệt. Họ choàng chung và chính thức trở
thành vợ chồng. Ảnh: Anh Phương.
|
14 thg 3, 2014
| |
|
|
|
|
|
Lễ vật hai vợ chồng đưa đến được bày ra để cúng tổ tiên. Ảnh: Putra Jatrai
|
|
|
|
Cô dâu và chú rể Chăm cùng họ hàng hai bên. Ảnh: Putra Jatrai
|
Người dân tộc Mạ. Ảnh tư liệu của báo ảnh VN
|
Làng dân tộc người Mạ. Ảnh: Báo ảnh VN
|
![]() |
Một nghi lễ trong ngày cưới. Ảnh: Lamchieu.
|
Cha mẹ đỡ đầu trao nhẫn cưới cho cô dâu và chú rể. Ảnh: Lamchieu.
|
Một bữa cơm thân mật của họ hàng hai bên khi mọi lễ tục diễn ra xong xuôi. Ảnh: Lamchieu.
|
9 thg 1, 2011
Nhẫn tượng trưng cho năm tháng: Thời xa xưa, chiếc nhẫn không chỉ có tác dụng làm trang sức đeo trên tay, nó còn là vật cúng tế ở các đền chùa miếu mạo hay những gò đất quanh nhà. Loại nhẫn này thường làm từ các loại ngọc trai khác nhau, hoặc những viên đá quý hình tròn. Các kết quả của ngành khảo cổ học và nhân chủng học cho thấy, loại nhẫn này được người xưa coi là gốc của vạn vật, tượng trưng cho thần mặt trời luôn tỏa sáng, mang lại hơi ấm cho nhân gian, mang hạnh phúc đến muôn nhà và sự bình an may mắn cho mọi người. Đồng thời, nó còn tượng trưng cho sự tồn tại vĩnh hằng của cái đẹp, là đại biểu cho chân lý và đức tin. Đến thời kỳ cận đại, trong các đám cưới ở Nga, người ta thường thấy chú rể đeo chiếc nhẫn vàng tượng trưng cho mặt trời rực lửa, còn cô dâu mang chiếc nhẫn bạc tượng trưng cho ánh trăng thuần khiết, dịu hiền.
Nhẫn làm tín vật và bùa hộ mệnh: Thần dân của đế quốc La Mã thường đeo nhẫn gắn ngọc trai hoặc hổ phách, và coi đó là bùa hộ mệnh chở che cho mình. Chiếc nhẫn của các thương gia và nhà quý tộc được gắn hồng ngọc tượng trưng cho sự giàu sang phú quý. Quốc vương các triều đại đều cho khắc dấu triện của hoàng gia lên nhẫn. Loại nhẫn con dấu này không chỉ là vật trang sức quý báu của vua, nó còn là tín vật để vua truyền ý chỉ. Chiếc nhẫn còn có liên quan đến y học và tôn giáo. Tương truyền, bích ngọc có thể chữa được nhiều bệnh khác nhau, vì thế khi làm lễ khấn giải trừ bệnh tật cho bệnh nhân, các ông thầy mo đều đeo vào tay bệnh nhân một viên hồng ngọc.
Nhẫn chìa khóa: Loại nhẫn này được ra đời vào thời La Mã cổ đại. Trong các lễ cưới, khi cô dâu bước vào phòng cưới, mẹ chồng sẽ đeo vào tay cô con dâu của mình chiếc nhẫn chìa khóa với ý muốn từ nay trở đi, cô gái đã trở thành thành viên trong gia đình mới, cần gánh vác và quán xuyến công việc trong gia đình như chăm sóc chồng, phụng dưỡng cha mẹ chồng và nuôi dạy con cái. Trong suốt cuộc đời làm vợ làm mẹ, người phụ nữ không được tháo chiếc nhẫn này ra, bởi nó tượng trưng cho tiết hạnh, đạo đức và trách nhiệm của mọi nàng dâu.
Nhẫn đính hôn và nhẫn cưới: Thời Ai Cập cổ đại, sáng sớm hôm tổ chức hôn lễ, chú rể trao cho cô dâu một chiếc nhẫn hình tròn chưa được mài dũa, gia công và khảm đá. Chiếc nhẫn thô này tượng trưng cho sự thủy chung và tình yêu vĩnh hằng của chú rể đối với cô dâu. Từ sau thế kỷ 16, trong các lễ đính hôn hay lễ cưới, hai bên nam nữ đều phải trao nhẫn cưới cho nhau. Chiếc nhẫn đính hôn thường có hình đôi bàn tay nắm chặt vào nhau, biểu tượng của lòng chung thủy sắt son. Loại nhẫn này ngày nay vô cùng hiếm. Người châu Âu thường tặng nhau chiếc nhẫn có gắn ngọc trai hay kim cương thể hiện sự sáng trong và sức sống lâu bền của tình yêu lứa đôi. Ngoài ra, các bậc mệnh phụ phu nhân ở phương Tây còn có thói quen tặng nhẫn có ký hiệu riêng cho các vị khách tới dự buổi hôn lễ. Nữ hoàng Anh Victory tự tay tặng hơn 70 chiếc nhẫn cho các vị khách tới dự lễ cưới linh đình của mình.
Nhẫn giáo chủ và nhẫn cung đình: Thời kỳ trung cổ, giáo chủ là người có quyền lực tối cao trong xã hội phương Tây. Họ thường đeo nhẫn bằng đá quý rất to, tượng trưng cho uy quyền giáo hội. Đến thế kỷ 15, các vị giáo chủ hay đeo nhẫn có khắc hình con sư tử đực dang rộng đôi cánh. Chiếc nhẫn bằng ngọc màu xanh hoặc tím tượng trưng cho tấm lòng nhân từ, đức độ, trong sáng và cao thượng của các vị giáo chủ. Đặc biệt, có vị còn khắc cả tên mình lên trên nhẫn.
Thế kỷ 17-18, trong các buổi vũ hội người ta có thói quen tặng nhẫn cho nhau. Các nhà quý tộc đua nhau mời những người thợ kim hoàn giỏi làm cho mình một chiếc nhẫn đặc biệt. Không ít người còn cho khắc cả chân dung của quốc vương, của tổ tiên thậm chí của bản thân mình lên mặt nhẫn bé xíu. Đó là cách để họ bày tỏ lòng kính trọng của mình đối với triều đình và tổ tiên.
17 thg 11, 2010
Theo chữ nghĩa, sách vở thì trai gái lấy nhau, gọi là giá thú (giá là lấy vợ, thú là lấy chồng) nhưng nhân gian ta vẫn gọi nôm là đám cưới, hoặc gọn hơn là cưới.
Trong đời sống tinh thần của người Việt (Kinh) thì cưới là một chuyện hệ trọng trong cuộc đời của mỗi con người. Dân gian có câu: “Tậu trâu cưới vợ, làm nhà. Trong ba việc ấy thật là khó thay”. Cưới là một phong tục, một nghi lễ đậm phong vị dân tộc nhưng lại nhiêu khê tốn kém. Phần lớn các đám cưới cổ xưa của người Việt thường được tổ chức theo một cuốn sách cổ gọi là Thọ mai gia lễ – cuốn sách dạy người ta những việc về quan, hôn, tang, tế. Về sau tuỳ từng vùng, từng thời, từng gia cảnh mà việc hỷ (cưới) được tổ chức khác nhau. Nhưng cho dù là ở đâu, thời nào thì một đám cưới truyền thống cũng gồm các thủ tục, các bước chính là: kén chọn, giạm ngõ (chạm mặt), hỏi, cưới, lại mặt và nộp cheo.
Kén chọn: Lệ xưa việc lấy vợ, gả chồng là việc của cha mẹ, vậy con cái đến tuổi trưởng thành thì cha mẹ tiến hành kén rể, kén dâu. Kén rể, kén dâu là một công việc tiền hôn lễ nhưng rất quan trọng. Trước hết là việc xem xét gia đình dự định trở thành thông gia xem thuộc loại gia đình như thế nào, có môn đǎng hộ đối không? Ca dao cổ có câu “Mua thịt thì chọn miếng mông, lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi” cho bên gái. Lại có câu “Lấy vợ kén tông lấy chồng kén giống” cho cả hai bên. Sự kén chọn của nhà trai bao giờ cũng chủ động nên kỹ càng hơn. Truyện Kiều có một câu:
Trǎm nǎm tính cuộc vuông trònCô dâu tương lai phải “tam hợp” tránh “tứ xung” về tuổi. Không sành việc xem tuổi thì cứ “Gái hơn hai, trai hơn một” là tốt. Đó là về tuổi còn ngoại hình thì người phụ nữ cũng phải “Lưng chữ vụ, vú chữ tâm” phải “thắt đáy lưng ong’”. Và nếu được cả con mắt lá dǎm, lông mày lá liễu nữa thì thật “đáng trǎm quan tiền”.
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông
Giạm ngõ hay chạm mặt: Đó là lần đầu tiên đại diện nhà trai đến nhà gái, sau khi đã chọn được dâu đúng với “tiêu chuẩn”. Lần “đặt vấn đề” này hoàn toàn có tính “đánh tiếng”, “làm quen”. Nếu sau lần giạm ngõ này không có vấn đề gì thì lễ ǎn hỏi chính thức được tiến hành. Điều đáng chú ý là trong lần chạm mặt này, cô dâu, chú rể tương lai sẽ được thấy mặt nhau, vì thế còn được gọi là lễ xem mặt.
Ǎn hỏi: Có nơi gọi là lễ bỏ trầu cau, khi hai bên trai gái đã thống nhất được với nhau về mặt gia đình, đối tượng cụ thể, vào “ngày lành tháng tốt” sẽ tổ chức ǎn hỏi. Nhà trai mang lễ vật gồm trầu cau, chè thuốc, có khi là xôi gà đến nhà gái để chính thức bàn chuyện cưới xin. Trong xã hội cũ thì lễ này là lễ “ngã giá” người con gái. Nhà gái sẽ được đưa ra yêu cầu, tức là nơi thách cưới. Lệ cưới cũ, thách cưới tức là yêu sách do nhà gái đặt ra với nhà trai. Thường là thách một đôi bông tai (khuyên tai) vàng, một chiếc nhẫn, chǎn, chiếu, hòm, xiểng, quân áo cho cô dâu, ít ruộng vườn cho đôi vợ chồng mới và gạo thịt, rượu, trầu cau, trà thuốc cùng các thực phẩm khác để làm cỗ cưới. Thông thường nhà trai phải lo chuyện này trước lễ đón dâu. Vậy nên mới xảy ra sự “Giơ cao, dánh khẽ”, “thương con ngon rể, và “cò kè bớt một thêm hai” trong lễ hỏi.
Sau lễ hỏi, nhà gái mang trầu cau đi chia khắp họ nội ngoại, xóm giềng, bè bạn. Miếng trầu cau thay cho lời thông báo việc gả chồng cho con, đó chính là thứ thay cho thiếp báo, thiếp mời.
Đoàn đưa dâu của nhà gái cũng gồm những thiếu nữ trẻ và xinh (gọi là các cô phù dâu), đứng đầu đoàn đưa dâu cũng là một bà có tuổi còn song toàn (còn chồng) và “mắn” con. Lúc này cả đoàn đón dâu và đưa dâu cùng đi, nên đông vui. Nào ô, nào khǎn, nào nón thúng quai thao, nào yếm thắm bao xanh, môi trầu “cắn chỉ”. Trang phục cổ truyền dân tộc xuất hiện phong phú nhất là ở lúc này.
Đoàn về đến nhà trai, ở đầu cổng, pháo đã nổ giòn để đón dâu. Tối đó là lễ tế tơ hồng nguyệt lão, tiên thiên, là lễ mệnh tiếu (nghe lời cha mẹ dạy bảo). Sau cùng là lễ hợp cẩn. Cô dâu bước qua đống lửa bước vào buồng mình. Có nơi đặt một cái cối trước cửa buồng khi cô dâu bước qua, mẹ chồng cầm chày giã vào cối không ba cái. Giường của đôi vợ chồng mới cưới đã được một người đàn bà có tuổi, nhiều con cái trải chiếu cho, một chiếc sấp, một chiếc ngửa… Vào giường, cô dâu phải ngồi thật mạnh xuống, trong lúc bạn bè, chú rể đang làm náo động ầm ĩ cǎn buồng lên một lúc rồi mới đi ra. Sau đó là lễ hợp cẩn: cô dâu chú rể uống chung một chén rượu nhỏ, có nơi ǎn chung một đĩa cơm nếp, đĩa xôi… tất cả những phong tục đó nhằm mong mỏi có nàng dâu hiếu thảo, sớm có con, vợ chồng hoà thuận đến “bách niên giai lão”.
Lễ lại mặt: Sau đêm tân hôn, vợ chồng mới dắt nhau về nhà gái. Mọi việc suôn sẻ sẽ tổ chức tiệc mừng. Lễ lại mặt xưa là để cô dâu tỏ chữ hiếu với cha mẹ, mặt khác, còn có ý nghĩa cô ấy, chị ấy đã làm toại nguyện chàng trai. Trường hợp có trục trặc gì trong đêm tân hôn thì trong ngày lại mặt này bố mẹ cô dâu cũng sẽ được biết. Xưa kia, khi chú rể cùng cô dâu trở về mà đem theo một lễ có thủ lợn mà cắt mất tai thì sẽ mất vui (thủ lợn bị cắt mất tai tức là dấu hiệu cảnh báo nhà gái rằng: con gái ông bà trước khi lấy chồng đã không còn trinh trắng!). Trường hợp này nhà gái buộc phải bí mật trả lại nhà trai một số của nả, lễ vật, nhiều khi rất đáng kể mới yên chuyện.
Lễ nộp cheo: là một nghi lễ phụ trong đám cưới, nhưng nhất thiết phải có. Không có bữa khao này thì đôi vợ chồng mới không được coi là thành viên của làng xóm. Trong bữa khao, chú rể đóng vai chính, anh ta ngoài việc phải lo bữa khao còn phải nộp một số vật liệu như gạch, ngói để tu bổ các công trình công cộng của làng xóm bên gái như đình, điếm, đường làng, chùa cổng… là một thủ tục nằm ngoài hôn thú nhưng không thể không có, vì vậy ca dao cổ có câu:
Có cưới mà chẳng có cheoĐó là tục lệ cưới xin cổ xưa. Ngày nay đám cưới của người Việt đã có những thay đổi lớn, vừa dân tộc vừa trang trọng nhưng cũng rất tiết kiệm. Các tục cũ như tảo hôn (lấy chồng từ thuở 13, đến nǎm 18 thiếp đà nǎm con), đa thê (trên trời có vảy tê tê có anh bảy vợ chẳng chê vợ nào), đòi của hồi môn (của cô dâu mang về nhà chồng) và nhiều tục lệ nhiêu khê, tốn kém khác đã mất dần, nhường chỗ cho những tập quán mới vừa dân tộc vừa vǎn minh.
Nhân duyên trắc trở như kèo không đinh






