Bài viết mới đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục Cưới Hỏi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục Cưới Hỏi. Hiển thị tất cả bài đăng

20 thg 3, 2014

Tục ngủ cùng, tỏ tình nhưng cấm ân ái của người Raglai

20 thg 3, 2014 - by Ana · - 0 Comments

Người Raglai ở Bác Ái, Ninh Thuận có nhiều nghi lễ đặc sắc như lễ cưới, lễ bỏ mã, lễ mừng lúa mới… đặc biệt nơi đây còn lưu giữ tập tục ngủ thảo độc đáo.
Raglai là một dân tộc thuộc huyện vùng cao Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận có ngôn ngữ và nét văn hóa gần giống với dân tộc Chăm. Họ sống chủ yếu quanh đồi núi, ở trong những ngôi nhà sàn, làm nương rẫy, có lối sống mang tính cộng đồng và nhiều nghi lễ, lễ hội đặc sắc.
Dưới ánh trăng sáng trên những ngọn triền đồi, bên ánh lửa bập bùng của núi rừng, những cô gái chàng trai Raglai tụ tập bên bãi đất trống của làng, bên ché rượu cần nồng ấm họ cùng nhau ca hát, nhảy múa. Từng đoàn người nhảy vòng quanh ánh lửa, đôi mông lắc lư, tay nhịp nhàng vỗ nhẹ chiếc Mã La tạo nên những âm thanh vang vọng núi rừng. Cuộc sống vui vẻ bình dị cứ thế diễn ra theo ngày tháng của người Raglai.
người Raglai
Vợ chồng Ama Tách kể về tục ngủ thảo.
Sau lễ hội, tiếng Mã La bắt đầu ngừng vang, những thanh niên Raglai lần lượt tìm cho mình một chàng trai, cô gái rồi cùng nhau về một mái nhà sàn cao ráo. Trong đêm tối họ nằm sát bên nhau trao gửi những lời yêu thương, tỏ tình, bắt đầu tìm hiểu về nhau để tiến đến một lễ cưới nếu hai bên cùng đồng ý. Đó là tập tục ngủ thảo độc đáo của người Raglai.
Ngủ thảo là ngủ chung với nhau để tỏ tình, để hiểu nhau, rồi yêu nhau, mức độ ngủ thảo chỉ đến độ ngủ chung, trò chuyện và nắm tay, đặc biệt kiêng kị quan hệ ân ái. Nếu cặp đôi nào phạm phải điều kiêng kị này sẽ bị làng phạt vạ bằng cách lấy roi mây đánh khắp cơ thể. Nếu con trai vi phạm bằng những hành động vượt phạm vi nắm tay và bị nhà gái lên án, sẽ bị nhà gái và cộng đồng làng phạt vạ bằng một con bò, một con heo và gà cho cả làng. Già làng sẽ cho làm mâm cỗ chuộc lỗi với thần linh và thông báo đến mọi người trong làng cùng biết về vi phạm của chàng trai và chàng trai sẽ bị đuổi khỏi làng.
Người Raglai quan niệm cuộc sống của họ được linh hồn tổ tiên và thần linh giám sát nên những việc như quan hệ tình dục trước hôn nhân, ăn cắp vặt.... đều sẽ bị thần linh và tổ tiên nhìn thấy, quở phạt. Do đó, họ luôn có lối sống hiền hòa, chân chất và ngay thẳng. Yếu tố về niềm tin tâm linh đã trở thành một phương thức giáo dục rất hiệu quả dù họ sống trên những đồi núi hoang sơ.
2-6522-1392094039.jpg
Ngôi nhà sàn truyền thống của người Raglai.
Người Raglai rất quan trọng hôn nhân đôi lứa nên đó để tiến đến ngủ thảo họ phải tìm hiểu trước cô gái hay chàng trai về tuổi tác, gia tộc, tính cách và lối sống. Nếu đã biết được đối phương thì dù là gái hay trai vẫn có thể lên tiếng mời đối phương về nhà ngủ thảo và chỉ ngủ ở nhà của cô gái hoặc một nhà sàn chung của làng. Ở đó họ không phân chia hay ngăn cách, ai đến trước thì tự tìm cho mình một chỗ ngủ để cùng tâm tình.
Với những gia đình có cô gái vừa lớn đủ tuổi cặp kê thì ngôi nhà sàn truyền thống được phân làm nhiều khu ngăn, nơi ngủ của bố mẹ, nơi tiếp khách, nơi ăn uống và nơi dành cô gái tiếp chàng trai trong những đêm ngủ thảo. Ở đó các trai gái Raglai nói chuyện và thao thức suốt đêm, đến sáng ai về nhà nấy. Những hôm sau nữa chuyện tình ngủ thảo lại tiếp tục diễn ra đến khi nào chàng trai và cô gái ưng cái bụng thì gia đình nhà gái sẽ làm lễ bắt chồng cho cô gái.
3-9748-1392094039.jpg
Một gia đình người Raglai ở Bác Ái.
Nếu sau đêm ngủ thảo cả chàng trai và cô gái đều không ưng, họ sẽ không tìm đến nhau nữa. Những đêm hội khác lại diễn ra, họ lại bắt đầu tìm cho mình những người khác để cùng ngủ thảo, tâm tình và trò chuyện. Chẳng biết tục ngủ thảo đã có từ bao lâu nhưng nó đã trở thành một nét đẹp rất riêng và độc đáo của người Raglai, sau những niềm vui lớn của cộng đồng là niềm vui, hạnh phúc của đôi lứa trai gái Raglai.
Bài và ảnh: Putra Jatrai

Lễ chia tay người chết của dân tộc Raglai

- by Ana · - 0 Comments

Sau khi chia tay vĩnh viễn người chết mọi người dặn dò người thân không buồn nữa, rồi cùng nhau uống rượu cần, ca hát nhảy múa, biến lễ Bỏ Mã thành lễ hội quan trọng và vui vẻ nhất của người Raglai.

Cũng như dân tộc Chăm anh em kế cận, người Raglai cũng quan niệm, trong cuộc sống nhân gian có hai thế giới cùng tồn tại song song, đó là thế giới của người đang sống và thế giới của người đã khuất. Thế giới mà ta đang sống chỉ là tạm bợ và thế giới của người đã khuất mới là thế giới vĩnh hằng. Do đó, khi có người thân đã qua đời, họ luôn tổ chức một lễ bỏ mả trang trọng. Lễ chia tay người chết về thế giới vĩnh hằng là một lễ nghi quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi con người Raglai.
dân tộc Raglai
Vẻ đẹp hoang sơ trong khu vực sinh sống của người Raglai.
Lễ bỏ mã được thực hiện trong 3 ngày với những nghi thức khác nhau, mỗi nghi thức mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, được truyền tụng từ đời này sang đời khác và bảo lưu một cách nguyên vẹn.
Ngày đầu của buỗi lễ là ngày chuẩn bị lễ vật và thông báo đến các anh em bạn bè gần xa ở các làng khác cùng đến chung vui và tiễn đưa người chết. Lễ vật là 3 ché rượu cần, 3 con heo, một con bò hoặc con trâu, gà, vịt và những sản vật của địa phương.
Người Raglai có cuộc sống mang tính cộng đồng, nên lễ bỏ mả phải tập trung đầy đủ những người trong làng cùng tham dự để cùng chia tay người đã khuất và cùng nhau thực hiện các nghi lễ một cách đầy đủ, trang trọng.
Với những gia đình không có nhiều của cải sẽ được cộng đồng giúp đỡ nhưng lễ bỏ mả sẽ được tổ chức sau một năm hay hai năm sau đó.Với những gia đình có nhiều của cải lễ bỏ mả sẽ được thực hiện một ngày sau khi người chết vừa qua đời.

3-9470-1392867806.jpg
Phụ nữ Raglai đi rẫy về.
Trong ngày đầu của buỗi lễ sẽ thực hiện nghi thức mời thầy cúng (Chủ Nhang) là già làng được mọi người trong palei (làng) tin tưởng, kính trọng và am hiểu nhiều những bài khấn vái, bùa phép. Sau lễ mời Chủ Nhang sẽ là nghi thức dặn hồn mả.  Người chết sẽ được Chủ Nhang thông báo tại ngôi nhà mồ về ngày, giờ diễn ra lễ bỏ mả để người chết biết mà đến đón nhận những lễ vật được chia cho người chết. Sau những nghi thức trên Chủ Nhang và những người trong gia đình cùng thực hiện nghi thức múa, khóc tế và khấn vái để cầu xin ông bà tổ tiên cho linh hồn người chết về với tổ tiên ở bên kia thế giới.
Ngày thứ hai được xem là ngày lễ quan trọng tại nhà. Trong ngày này bà con hàng xóm láng giềng cùng đến bữa ăn bữa cơm để chia tay người chết. Lễ vật chia cho người chết được làm một mâm cỗ nhỏ gồm 3 chén rượu cần được múc ra từ 3 ché, 3 đĩa thịt heo, 3 chén trầu cau, 3 chén gạo, một con gà luộc.
Sau khi lễ vật xong xuôi được đưa lên cúng ở trên kệ cao, rồi Chủ Nhang cùng đoàn người thân trong gia đình đến nhà mồ khóc tế, múa Mã la để rước hồn người chết về nhà ăn cơm. Sau đó, mọi người trong làng cùng ăn cơm để chia tay người chết rồi chuẩn bị lễ làm tầng mã. Lễ này được xem là quan trọng nhất, tất cả mọi người phải tham gia đông đủ để gặp gỡ và chia tay người chết lần cuối cùng. Lễ được thực hiện từ đầu giờ chiều đến chập tối, sau đó mọi người cùng ăn uống, nhảy múa, ca hát bên đống lửa và ché rượu cần cho đến sáng hôm sau.
Ngày thứ ba được xem là ngày chia tay vĩnh viễn người chết. Sáng sớm của ngày thứ ba mọi người chuẩn bị lễ vật để cúng cho người chết tại nhà mồ, kèm theo đó là lễ cúng cơm sáng. Sau đó, những người đàn ông khiêng lễ vật ra nhà mồ, đến nơi mọi người bày lễ vật ra xung quanh. Chủ Nhang của buổi lễ chia cho mọi người những nén hương, sau đó mọi người đứng thành vòng xung quanh nhà mồ khấn vái để chia tay linh hồn người chết, đội múa Mã la nhảy vòng xung quanh nhà mồ.
4-3478-1392867807.jpg
Những ngôi nhà mồ của người Raglai.
Sau những nghi lễ tại nhà mồ mọi người cùng nhau về nhà chuẩn bị buổi lễ dặn dò người sống trong gia đình không buồn nữa. Chủ Nhang cùng những người thân trong gia đình cùng nâng chén rượu cần, khấn vái và dặn dò người trong nhà phải tiếp tục sống và làm ăn phát đạt, giàu có.
Lễ xong xuôi tất cả mọi người trong làng cùng ăn cơm, uống rượu cần, đốt lửa nhảy múa, ca hát trước sân nhà, biến ngày buồn thành ngày vui, biến ngày lễ thành ngày hội, mọi người vui vẻ, vui chơi đến thâu đêm suốt sáng.
Bài và ảnh: Putra Jatrai

16 thg 3, 2014

Những phong tục cưới hỏi kỳ lạ ở Việt Nam

16 thg 3, 2014 - by Ana · - 0 Comments

Trai gái Mông ở Mèo Vạc (Hà Giang) khi thích nhau sẽ vỗ vào mông người kia đủ 9 lần để tỏ tình và nên duyên vợ chồng; còn ở thị trấn Yên Lạc (Vĩnh Phúc) mỗi tháng chỉ có 2 ngày được phép tổ chức cưới. 
Vỗ mông chọn vợ ở Hà Giang
Người Mông ở Mèo Vạc (Hà Giang) ngoài tục chặn đường cướp dâu còn có tục vỗ mông để chọn bạn đời. Đầu năm, trai gái Mông háo hức sắm sửa quần áo đẹp đi chơi xuân. Trên các bãi đất trống, trai gái thi nhau thổi khèn, ném còn giao duyên.
Thích cô gái nào đó, chàng trai vỗ vào mông thiếu nữ coi như tỏ tình. Nếu ưng cái bụng thì cô gái vỗ đáp lại. Hai người vừa đi vừa vỗ đến khi đủ 9 cặp thì thôi, sau đó họ tìm chỗ ngồi tâm sự riêng. Người Mông quan niệm mỗi bên phải vỗ mông đủ 9 lần thì lời tỏ tình mới được công nhận. Sau đó, chàng trai tìm người mai mối và họ chính thức nên duyên vợ chồng.
 phong tục cưới hỏi kỳ
Hai bên phải vỗ vào mông đối phương đủ 9 lần thì lời tỏ tình mới được chấp nhận . Ảnh: TL.
Thực ra, không phải vô tình mà trai gái Mông tìm được nhau và thực hiện tục lệ trên. Những người tham gia tục lệ này thường có sự tìm hiểu từ trước và ưng thuận nhau. Vỗ mông chỉ là cái cớ để hai người gặp lại, chàng trai có dịp thể hiện tình cảm lẫn bản lĩnh của mình trước mặt cô gái và những người xung quanh.
Đàn ông Mông thường chọn người vợ biết thêu thùa, khâu vá. Ngoài ra, cô gái phải có dáng to khỏe, bắp chân săn vồng, mông to nhún nhảy trong làn váy theo mỗi bước đi vì những người đó khéo làm lụng và chăm con.
Nơi một tháng chỉ được cưới hai ngày
Thị trấn Yên Lạc (Vĩnh Phúc) là địa phương duy nhất của cả nước có quy ước cưới xin. Ngày dạm ngõ, ngày cưới được quy định rõ ràng. Đám cưới ở đây chỉ được tổ chức vào hai ngày trong tháng là mùng 2 và ngày 16 âm lịch. Quy ước còn quy định cụ thể cách tổ chức cưới "Không làm sân khấu, không dùng loa nén, không cổng chào, dùng các loại bóng điện thường thắp sáng, tiết kiệm chi tiêu, không tổ chức ăn lại mặt sau cưới...".
Với 80% dân số làm nghề mộc, mức sống của người dân thị trấn khá cao. Vào ngày được cưới, cả thị trấn đóng cửa xưởng, người dân gác việc nhà đổ xô đi ăn cỗ. Cả chục đôi uyên ương cưới cùng một ngày khiến cho việc đi ăn cưới ở đây giống một ngày hội.
Dù quy ước còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng đã thành lệ, thành thói quen nên người dân nghiêm túc thực hiện, không có đám nào phá lệ. Chỉ có đám thanh niên là không đồng thuận, vì cho rằng cưới không hát hò, loa đài thì buồn và bị trai làng khác chọc khoáy là kém chịu chơi. Nhưng lệ ông cha đặt ra nên họ đành phải chấp nhận.
Tục rước dâu ban đêm của người Thái ở Nghệ An
cuoi3-1595-1394802788.jpg
Trước khi bước vào cửa nhà chồng, cô dâu sẽ được làm lễ rửa chân kỹ càng. Ảnh: TL.
Người Thái ở bản Cò Phạt, xã Môn Sơn (Con Cuông, Nghệ An) thường rước dâu vào lúc 0h. Họ cho rằng ban ngày có nhiều linh hồn, quỷ dữ lang thang, nếu đám rước tiến hành ban ngày thì những linh hồn sẽ theo về phá hạnh phúc của đôi trẻ. Thời khắc chuyển giao giữa ngày cũ và mới chính là lúc trong lành, có nhiều lộc trời nhất, là lúc thích hợp để đón cô dâu về nhà.
Đúng 22h đêm, đoàn rước nhà chú rể bắt đầu lên đường. Ngoài lễ vật thì nhà trai phải chuẩn bị một cái chiêng để vừa đi vừa gõ, xua đuổi tà ma và thông báo cho cả làng biết người con gái trở thành con nhà mình.
Khi đến nơi, cổng nhà gái đóng kín. Cô dâu đứng trong hát "Cổng nhà tôi then nào cũng dài/ Đố anh biết cái này gỗ chắc?". Chú rể buộc phải vượt qua thử thách màn hát đối đáp giao duyên thì mới được mở cổng cho vào.
Bước vào sân, chú rể bị người nhà cô dâu té cả xô nước vào người. Đây là tục lệ "rửa tội" và cũng để thử thách lòng kiên nhẫn của chàng trai. Qua được màn này, chú rể bước lên nhà và tiếp tục vượt qua các vòng hát đối đáp khi người nhà cô dâu mời ngồi, mời trầu. Nội dung màn hát kể những gian lao, vất vả của hai họ khi nuôi nấng cô dâu, chú rể trưởng thành khiến cuộc rước dâu thêm tưng bừng. Người Thái hay hát đối đáp nhằm kéo dài thời gian, chờ thời khắc để rước dâu và cũng là giữ gìn phong tục của người xưa.
Thời khắc rước dâu đã điểm, cô dâu bước ra khỏi nhà. Về đến nhà chú rể, cô sẽ được mẹ chồng chờ sẵn với chậu đồng đựng nước suối trong, có ngâm đồng xu bạc. Bà sẽ rửa chân cho con dâu vào nhà và trao vòng bạc may mắn. Sau đó, đôi trẻ trao vòng cưới và thề hẹn thủy chung suốt đời.
Điều đặc biệt trong đám cưới nơi đây, dù lấy chồng gần hay xa thì cô dâu cũng phải đi bộ. Đôi trẻ dẫn đầu, đoàn người cứ thế đi trong sương lạnh nhưng ấm tình người.
Mùa bắt chồng của thiếu nữ Chu Ru ở Lâm Đồng
Tháng ba Tây Nguyên, mùa con ong đi lấy mật cũng là lúc thiếu nữ Chu Ru rộn ràng vào mùa bắt chồng. Người Chu Ru sống theo chế độ mẫu hệ, muốn có chồng thì cô gái phải đi bắt vào ban đêm.
cuoi1-1892-1394802788.jpg
Theo tục lệ của người Chu Ru, sau khi chàng trai đồng ý đeo nhẫn, cô gái dâng chiếc khăn tự tay dệt. Họ choàng chung và chính thức trở thành vợ chồng. Ảnh: Anh Phương.
Khi thích chàng trai nào đó, thiếu nữ thông báo cho cả gia đình và dòng họ biết. Gia đình cô gái đến nhà chàng trai hỏi dạm và bà mối đeo chuỗi cườm, nhẫn đính hôn vào tay chàng trai. Người con trai nhận đeo nhẫn nghĩa là chấp thuận làm chồng cô gái. Trường hợp không thích, chàng trai có thể tháo trả nhẫn nhưng 7 ngày sau cô gái lại chọn đêm đẹp trời để tới, cho đến khi chàng trai đồng ý và đám cưới được tiến hành.
Trước ngày cưới của đôi trẻ, buôn làng tổ chức đêm hội bắt chồng rất tưng bừng. Trong đêm hội, trai gái phải đọc những luật tục riêng, như "Tìm vợ, tìm chồng phải hỏi mẹ cha, ăn ruộng ăn rẫy phải hỏi tai con trâu con bò, làm rẫy phải hỏi thần núi, về với vợ như về với nước...".
Với người Chu Ru, đôi nhẫn cưới mang một sức mạnh huyền bí, được gọi là Srí. Nó làm nhiệm vụ kết nối và trở thành lời thề hạnh phúc gia đình khi người con gái hoàn thành thủ tục bắt chồng.
Để đúc nhẫn, người nghệ nhân nấu chảy sáp ong, trộn phân trâu rồi dùng que gỗ tròn bằng ngón tay nhúng vào, chờ sáp khô là rút que gỗ ra. Sáp và phân quánh thành ống tròn, được cắt làm khuôn đúc nhẫn. Sau đó, họ đổ bạc đun nóng vào khuôn, đúc thành đôi nhẫn trống mái. Nhờ sức nóng của bạc, sáp và phân bết chặt tạp thành lớp men ngoài nhẫn, tượng trưng cho vợ chồng gắn kết thủy chung.
Lấy nhau về, vợ hoặc chồng ngoại tình sẽ phải đền ba con trâu đực cho người kia và số trâu tăng theo số lần ngoại tình. Con trâu là tài sản lớn trong nhà nên đây được coi là tập tục gắn kết tình chung thủy trong đời sống vợ chồng. Đôi nhẫn sau này trở thành tín vật giữa hai nhà.
Phương Hòa - Vnexpress

14 thg 3, 2014

Tục trả áo cho cha mẹ sau ngày cưới của người Chăm

14 thg 3, 2014 - by Ana · - 0 Comments

Sau ngày cưới hai ngày ba đêm người con trai không được phép về nhà cha mẹ ruột, sang ngày thứ ba chàng trai sẽ đem lễ vật về nhà cha mẹ để thực hiện lễ tục trả áo.
người Chăm
Tháng 7 hè sang, những ngọn đồi ở Ninh Thuận phủ trọn một màu tím của sắc hoa bằng lăng, người nông dân xong vụ đồng áng, đó cũng là lúc người Chăm rộn ràng, náo nức chuẩn bị mùa cưới cho những đôi vợ chồng trẻ. Ngày cưới diễn ra trong một ngày nhất định, cả xóm làng rềnh rang những bản nhạc tình yêu đương nồng thắm.
Người Chăm sống theo chế độ mẫu hệ, ở đó con gái chịu tất cả những chi phí cho việc cưới hỏi người chồng để về làm rể. Người chồng được cưới về có trách nhiệm tạo dựng một gia đình hạnh phúc, chăm lo việc đồng áng, dạy dỗ con cái và thực hiện những nghi lễ theo tín ngưỡng tôn giáo.
Để tiến đến một lễ cưới, những chàng trai và cô gái Chăm phải tìm hiểu nhau trước, ngoài việc hợp nhau về tính cách, yêu thương nhau, yếu tố quan hệ cộng đồng và muôn đăng hộ đối trong gia tộc, dòng họ vẫn mang tính quyết định. Chàng trai Chăm luôn chủ động trong việc tìm người bạn tình. Khi biết và có tình ý với cô gái, chàng trai sẽ đến nhà cô gái chào hỏi, trò chuyện và tán tỉnh cho đến khi nào cô gái hiểu được tâm ý, chấp nhận tình yêu của chàng trai đó. Lúc này gia đình nhà gái sẽ nhờ người mai mối đến xin phép và chào hỏi gia đình chàng trai, để cho hai gia đình cũng như hai bạn tình được qua lại tìm hiểu thêm về nhau.
Khi đã chính thức quyết định lấy nhau, gia đình nhà cô gái sẽ chuẩn bị lễ vật như bánh ít lá chuối, bánh bông lan truyền thống, nải chuối chín, rượu và thịt hay khô cá đuối để mời họ hàng hai bên cùng thưởng thức. Trưởng tộc họ nhà cô gái sẽ đại diện để xin gia đình và dòng họ nhà chàng trai định ngày cưới chính thức cho đôi bạn tình.
Lễ cưới sẽ diễn ra vào ngày thứ 4 thượng tuần trăng trong các tháng 3, 6, 10, 11 (Chăm lịch) ứng với tháng 7, 9, 1, 2 (dương lịch). Rộn ràng và đông đúc nhất là tháng 3 Chăm lịch (tháng 7 dương lịch), các xóm làng trở nên náo nhiệt và đông vui từ sáng sớm cho đến tối mịt. Tiếng đờn ca thánh thót hòa với tiếng bước chân của dòng người qua lại làm cho xóm làng vốn bình yên trở nên rôm rả như một ngày hội.
Bắt đầu vào lúc 2h chiều ngày thứ 4, họ hàng bên nhà chàng trai sẽ chuẩn bị một bộ áo quần mà chàng trai hay mặc thường ngày đựng trong một cái túi, cha mẹ đỡ đầu (theo tục lệ), cùng cha mẹ chính thức và họ hàng, bạn bè sẽ dẫn chàng trai với bộ đồ Chăm truyền thống đến nhà cô gái. Trong một gian nhà cổ kính, cha mẹ đỡ đầu chàng trai sẽ thực hiện những nghi lễ chào hỏi và chính thức trao tay chàng trai cho cô gái và gia đình. Chàng trai với chiếc áo quạ truyền thống, đầu quấn khăn và cô gái với chiếc áo dài xinh xắn, rạng rỡ nắm tay nhau bước ra chào hỏi gia đình hai họ trong niềm vui vẻ, hạnh phúc, hân hoan.
2-1942-1394070801.jpg
Lễ vật hai vợ chồng đưa đến được bày ra để cúng tổ tiên. Ảnh: Putra Jatrai
Sau khi lễ cưới kết thúc, trong hai ngày ba đêm đầu chàng trai tuyệt đối không được bước chân vào nhà cha mẹ của mình, cho đến ngày thứ ba (nhằm ngày thứ 7 trong tuần) đôi vợ chồng trẻ sẽ đem bánh trái theo tục lệ gồm bánh ít, bánh sakaya, bánh bông lan, bánh tét, chuối, rượu đến nhà chàng trai để thực hiện nghi lễ “trả áo”.
Chàng trai sẽ mặc trên mình bộ áo quần mà cha mẹ đã sắm sửa chăm lo, nuôi nấng từ lúc lọt lòng đến khi lấy vợ để quay lại làm lễ tục “trả áo”. Người Chăm quan niệm người con trai khi lấy vợ sẽ không được mang bất cứ thứ gì của gia đình đi dù là một bộ áo quần vì công lao dưỡng dục, nuôi nấng của cha mẹ từ lúc sinh ra đến khi trưởng thành đã trọn vẹn và đầy đủ. Khi lấy vợ chàng trai sẽ phải tự sắm sửa cho mình, đã thực sự trưởng thành và tự chăm lo cho gia đình mới.
3-9988-1394070801.jpg
Cô dâu và chú rể Chăm cùng họ hàng hai bên. Ảnh: Putra Jatrai
Lễ vật mà hai vợ chồng trẻ đem đến sẽ được bày ra để dâng cúng và thỉnh mời linh hồn tổ tiên về chứng giám và cầu xin cho đôi vợ chồng trẻ làm ăn phát đạt, con đàn cháu đống và mãi mãi hạnh phúc bên nhau.
Sau khi kết thúc lễ “trả áo”, cha mẹ chàng trai sẽ sắm sửa một bộ lễ vật để cầu chúc cho đôi vợ chồng gồm: một bộ nồi, niêu, chén, bát, đũa với ý nghĩa từ nay hai vợ chồng sẽ tự túc cơm nước, ăn riêng, ở riêng; một miếng vải với ý nghĩa hai vợ chồng tự may vá cho mình cái áo để sưởi ấm cho nhau;một túi đậu phộng với ý nghĩa hai vợ chồng sẽ vượt qua mọi khó khăn lo lắng và một trái dừa với ý nghĩa hai vợ chồng sẽ làm ăn phát đạt, sung túc.
Lễ tục xong xuôi mọi người trong gia đình sẽ làm một bữa tiệc cùng nhau ăn uống, chuyện trò, buổi chiều cùng ngày chàng trai về lại nhà cô gái và ở rể bên nhà gái đến trọn đời.
Putra Jatrai

Tục ngủ chung trước hôn nhân của người Mạ

- by Ana · - 0 Comments

Trong phong tục của người Mạ, các cặp đôi khi tìm hiểu nhau nếu “ưng cái bụng” họ sẽ được ngủ chung thoải mái.
Trong chiều chạng vạng nơi góc rừng Cát Tiên, cuộc sống của người Mạ (ở xã Tà Lài, huyện Tân Phú, Đồng Nai) vẫn quen thuộc với tiếng kẽo cà kẽo cọt của khung cửi. Bên ché rượu cần của già làng K’Gõ, 84 tuổi, vốn được mệnh danh là “kho tàng văn hóa sống” của người Mạ ở Tà Lài, kể nhiều câu chuyện độc đáo về phong tục, tập quán từ xa xưa. Trong đó, thú vị nhất chính là quan niệm khá mới mẻ của họ về hôn nhân.
phong tục của người Mạ
Người dân tộc Mạ. Ảnh tư liệu của báo ảnh VN
Hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai theo chế độ phụ hệ, một vợ một chồng và tuyệt nhiên không có quan niệm trọng nam khinh nữ. Đặc biệt, khi con cái trong nhà đến tuổi trưởng thành, khoảng 15-17 tuổi được thoải mái tự do tìm hiểu. Ngoại trừ những trường hợp bố mẹ có hôn ước cho con từ thuở nhỏ, đứa trẻ lớn lên sẽ phải tuân theo và không được tự do lựa chọn bạn đời.
Tập tục cũng quy định, nếu bên nào bội ước phải tiến hành “trả lễ” cho bên kia. Chẳng hạn, đằng trai lấy vợ trước, bên gái sẽ có quyền yêu cầu nhà trai “trả lễ”. Đây chính là một hình thức “phạt vạ” đã tồn tại từ lâu trong cộng đồng người Mạ. “Nếu bên nào đi lấy người khác trước thì bị phạt của cải rất nhiều, bằng số tiền cưới luôn. Lễ vật gồm hai con trâu, bốn con heo, nhiều rượu cần, chóe, gạo, thóc, gà vịt…”, già làng K’Gõ cho biết.
Trong chuyện yêu đương hay tự tìm bạn đời, cha mẹ không hề ngăn cấm hay ràng buộc. Nếu cảm thấy “ưng cái bụng”, đôi trai gái có thể dắt nhau vào rừng hay những nơi vắng vẻ để tìm hiểu. Thậm chí, sau khi G’bổ (thương nhau), họ có thể tầm-pài (ngủ với nhau) miễn là không cùng huyết thống và không được để có bầu trước hôn nhân. Đáng nói là, việc này không hề ảnh hưởng đến chuyện trăm năm của cô gái sau này.
Ngày xưa, người con gái mang bầu trước khi kết hôn sẽ bị làng phạt rất nặng như đuổi ra khỏi nơi cư trú, trừ phi có người nhận làm cha đứa bé trong bụng. Ngày nay, tục lệ này đã không còn. Nếu cái thai của con gái “vô chủ”, cha mẹ phải soạn lễ vật cúng trong nhà như heo, vịt, gà… để tránh xui xẻo.
Theo anh K’Lâm, cán bộ văn hóa xã Tà Lài, dù phong tục của người Mạ rất “thoáng” trong chuyện trinh tiết nhưng một cô gái không ăn ngủ cùng lúc với nhiều chàng trai sẽ được mọi người đánh giá có đạo đức hơn một cô gái có lối sống buông thả. Trường hợp một cô gái được hai chàng trai để ý, giữa họ phải có một cuộc thách đấu bằng xà gạc (dụng cụ đi rẫy và là vũ khí đi rừng của người dân tộc). Ai đủ bản lĩnh giành chiến thắng sẽ được yêu cô gái.
Khi hai người đồng ý sống cùng nhau, chàng trai sẽ về thông báo với gia đình để chuẩn bị sính lễ đến nhà cô gái. Cùng với những lễ vật đã được sắm rất chu đáo, bên nhà trai sẽ nhờ một người có uy tín trong họ hàng để làm ông mai dẫn đến nhà gái. Khi đi hỏi vợ, chàng trai người Mạ đã trở thành một người đàn ông thực thụ với ngọn lao cầm trên tay, chiếc dao dắt ngang lưng và trên vai là cây xà gạc.
Đồng thời, anh ta sẽ được mặc trang phục truyền thống của người Mạ, đó là đóng khố với nhiều sợi dây màu đỏ nổi bật, tay đeo trang sức đồng, búi tóc lên cao và cài một chiếc lược sừng sâu. Cô gái sẽ phục sức lên người một bộ váy với nhiều hoa văn đặc trưng rất đẹp mắt của người Mạ, kèm theo những phụ kiện như chiếc đai lưng màu sặc sỡ, đeo nhiều chuỗi vòng có đính hạt cườm. Cô gái cũng giống như chàng trai, búi tóc và cài lược sừng trâu nhưng được cắm thêm con dao nhỏ.
Khi vừa tới nhà gái, tự tay chàng trai sẽ cắm ngọn lao xuống đất, ngay trước cửa nhà gái và… đứng đợi. Một lát sau, người đại diện cho đàng gái có thể là cha hoặc cậu ruột sẽ trực tiếp ra đón nhà trai. Sau khi nghe lời trình bày lý do tại sao đến đây của chàng trai, nhà gái gật đầu đồng ý. Ngay lúc đó, chàng trai sẽ rút ngọn giáo và cùng mọi người vào nhà. Cũng giống như nhiều dân tộc thiểu số khác, việc đầu tiên mà chàng trai người Mạ phải làm khi bước chân vào nhà gái là đứng trước bàn thờ tổ tiên khấn vái rồi đem ngọn giáo gác lên xà nhà. Ngọn giáo sẽ được để nguyên tại nhà gái bảy ngày bảy đêm.
lang-3206-1394771375.jpg
Làng dân tộc người Mạ. Ảnh: Báo ảnh VN
Sau những nghi lễ được hai họ cử hành, mọi người mới cùng nhau ngồi lại bên những ché rượu cần. Lúc tiệc rượu tàn, nhà trai ra về, riêng chàng trai sẽ ở lại nhà vợ chưa cưới để làm việc. Đặc biệt, một tập tục kỳ lạ chỉ có ở người Mạ là sau đám nói việc quan hệ nam nữ sẽ tuyệt nhiên bị cấm, dù trước đó hoàn toàn thoải mái. Trường hợp đôi trai gái muốn ngủ chung thì phải vào rừng và tự dựng túp lều để cùng nhau sống ở đó. Đến khi kết hôn các cặp đôi sẽ được ngủ chung.
Trong quá trình sống chung, nếu đôi vợ chồng trẻ không hợp nhau hay cô gái không thể sinh con cho nhà chồng, đằng trai có thể trả cô gái về nhà mẹ đẻ. Dù cô dâu có lỗi cũng không được đánh đập, đặc biệt trước mặt bố mẹ vợ và con cái, vì như thế chẳng khác nào đánh vào cha mẹ cô gái.
Theo quan niệm của người Mạ, nếu cô dâu được trả về nhà mẹ đẻ trong tình trạng bầm dập, cô đã là một người chết, nhà gái sẽ không nhận. Đồng thời, nhà gái sẽ phạt vạ nhà trai rất nặng. Chính vì vậy, để cha mẹ nhận lại con cái của họ thì cô gái phải được trả về “nguyên vẹn”.
Chị Ká Rển, nghệ nhân dân gian của người Mạ kể về câu chuyện ở rể của chàng trai Tà Lài khi không đủ tiền trả sính lễ cho nhà gái. Theo chị, trong quan niệm của người Mạ, người con gái khi đi lấy chồng chẳng khác nào… mất luôn. Vậy nên, nhà gái sẽ đòi hỏi sính lễ rất cao đối với nhà trai. Để được đính hôn với cô gái, chàng trai phải “cống nạp” lễ vật cho bố mẹ vợ tương lai là một ché rượu cần, một con gà, nhiều chuỗi hạt đeo cổ, lục lạc, lược sừng và nhiều món quà quý khác theo yêu cầu của nhà gái.
Trước khi tiến hành hôn lễ, nhà trai phải nạp nhiều lễ vật có giá trị khác như: hai con trâu, sáu con lợn, một cặp chiêng, ba mươi cái ché. Ngoài ra, họ phải đãi tiệc dân làng nhiều ngày liền. Chàng trai cũng có thể “khất” nhà gái phần sính lễ nếu chưa thể trả hết, với điều kiện phải đi ở rể. Chỉ khi nào sính lễ cho nhà gái được hoàn tất, chàng trai mới được đưa cô gái về nhà mình làm dâu và những đứa con sinh ra mới được mang họ cha.
Chị Ká Rển chia sẻ: “Nếu tính theo thời giá hiện nay, tổng số lễ vật mà nhà trai mang đến nhà gái có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. Vì số tiền quá lớn, nhiều chàng trai có hoàn cảnh nghèo khó đành ở rể suốt đời. Như tôi đây, đến bây giờ vẫn mang họ của mẹ vì cha quá nghèo, đến lúc chết vẫn chưa trả hết lễ vật. Cha mẹ tôi sống cùng nhau bao năm, sinh đến 10 mặt con mà theo tục lệ người Mạ cha tôi vẫn chưa thể có… vợ”.
Đến bây giờ, việc lấy chồng của chị cũng theo quan niệm của người Mạ, nên hiện chồng Ká Rển vẫn phải ở rể vì gia đình anh quá nghèo. Tất nhiên, bốn đứa con của anh chị đều mang họ mẹ. Chỉ khi nào anh hoàn tất được sính lễ cho nhà gái, con cái mới được “chính danh” mang họ cha.                  
Theo VTC

Tục cấm ân ái ba đêm sau cưới của người Chăm

- by Ana · - 0 Comments

Sau khi lễ cưới theo tục lệ của người Chăm, trong ba đêm đầu hai vợ chồng được nằm chung với nhau nhưng tuyệt đối không được ân ái.

Người dân tộc Chăm sống ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ, tập trung nhiều ở Ninh Thuận, Bình Thuận. Chế độ mẫu hệ vẫn còn lưu truyền trong văn hóa sống của người Chăm từ xưa đến nay. Trong đó người con gái út thừa hưởng tất cả tài sản do cha mẹ để lại và có trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng khi cha mẹ về già hay thực hiện những nghi lễ tín ngưỡng khi cha mẹ qua đời.
Người con trai Chăm được cha mẹ nuôi nấng đến tuổi cặp kê, lấy vợ, có nghĩa vụ chăm sóc gia đình bên vợ và ở bên nhà vợ cho đến khi qua đời. Đến lúc làm lễ nhập Kut, người con trai mới quay trở lại bên gia đình và dòng họ mẹ.
Tục cấm ân ái ba đêm sau cưới của người Chăm
Một nghi lễ trong ngày cưới. Ảnh: Lamchieu.
Người Chăm còn lưu giữ nhiều tập tục đặc sắc, được lưu truyền đến ngày nay. Những tập tục đã có luôn được người Chăm thực hiện và tuân theo một cách nghiêm ngặt. Đó cũng là một trong những cách mà người xưa truyền dạy nhằm phần nào răn đe hay giáo dục bản tính rất hay và hiệu quả, trong đó có tập tục “cấm ân ái ba đêm đầu” sau khi cưới của đôi vợ chồng người Chăm.
Đối với người Chăm, tuy rằng con trai được con gái cưới về nhà ở rể nhưng người chủ động tìm kiếm và tán tỉnh phải là người con trai, cho đến khi nào hai người yêu nhau, hiểu và hợp nhau rồi đi đến quyết định lấy nhau thì khi ấy, người con gái mới thực hiện những tập tục cưới hỏi theo truyền thống.
Lễ cưới của người Chăm phải diễn ra theo một tuần tự nhất định. Khi vừa quen nhau cha mẹ nhà gái sẽ đến ra mắt xin được qua lại giữa hai gia đình, sau một thời gian sẽ là lễ dặm hỏi để xin ngày cưới chính thức. Cưới xong sẽ là lễ trả áo cho cha mẹ chàng trai, đến đây hai vợ chồng mới chính thức là của nhau, được ân ái và sống với nhau đến trọn đời.
2-8576-1394070029.jpg
Cha mẹ đỡ đầu trao nhẫn cưới cho cô dâu và chú rể. Ảnh: Lamchieu.
Người Chăm rất khắt khe trong việc quan hệ ân ái trước hôn nhân. Cả hai vợ chồng phải là người trong sạch, lễ cưới mới được tiến hành theo đúng tục lệ. Nếu cô gái có thai trước khi cưới mà gia đình không hay biết, vẫn tiến hành lễ cưới theo thông tục thì sẽ bị thần linh trách phạt, suốt cuộc đời hai vợ chồng sẽ không làm ăn phát đạt và luôn xảy ra những điều không hay.
Ong Inâ Amâ (cha mẹ đỡ đầu) là chủ nhân của hôn lễ. Trước khi cưới, cha mẹ hai bên phải đem bánh trái đến nhà người thân trong gia đình họ hàng để thỉnh họ làm Ong Inâ Amâ cho hôn lễ. Vào đầu giờ chiều ngày thứ 4 thượng tuần trăng của tháng 3, 6, 10, 11 (Chăm lịch) ứng với tháng 7, 9, 1, 2 (dương lịch), cha mẹ đỡ đầu của nhà trai sẽ dẫn chú rể đến nhà gái và trao tay chàng trai cho cô dâu, cha mẹ đỡ đầu nhà gái.
Lễ tục, trà nước và rượu thịt xong xuôi mọi người ra về sẽ còn lại cô dâu, chú rể và cha mẹ đỡ đầu trong một gian nhà cổ kính của gia đình. Ở đó cha mẹ đỡ đầu sẽ dặn cô dâu và chú rể trong ba đêm đầu tiên không được ân ái với nhau, nếu phạm phải sẽ bị Po Yang (thần linh) trách phạt. Ngoài việc dặn dò Ong Inâ Amâ còn trải hai cái chiếu dưới nền nhà, cái trên đè lên cái dưới cách mép 20 cm. Ở giữa chiếu sẽ đặt một mâm quả trầu, cau, hai vợ chồng sẽ ngủ dưới nền nhà trong ba đêm đầu tiên, mâm quả sẽ đặt ở giữa hai vợ chồng.  
3-5817-1394070030.jpg
Một bữa cơm thân mật của họ hàng hai bên khi mọi lễ tục diễn ra xong xuôi. Ảnh: Lamchieu.
Trong ba đêm đầu tiên hai vợ chồng chỉ được trò chuyện với nhau, không có bất cứ ý niệm nào về nhục dục. Lúc ngủ trò chuyện cũng không được quay lưng với nhau. Cha mẹ đỡ đầu sẽ ngủ ngoài phòng the để canh giữ hai vợ chồng. Đến sáng thứ 7 của thượng tuần trăng trong tháng (tức 3 ngày sau cưới), hai vợ chồng sẽ làm mâm lễ đem đến nhà cha mẹ chàng trai để làm lễ trả áo. Lễ tục trả áo vừa xong cha mẹ đỡ đầu sẽ vào phòng the dỡ khay mâm quả đặt ở dưới chiếu, đến lúc này hai vợ chồng mới được ân ái với nhau.
Tục cấm ân ái ba đêm đầu là nét đẹp của người Chăm nhằm giáo dục bản tính con người phải kìm nén dục tính. Trong cuộc sống người Chăm đã cấm quan hệ ân ái trước hôn nhân thì ba đêm sau ngày cưới chính là ba đêm mà hai người yêu thương nhau tìm hiểu nhau để khỏi phải ngỡ ngàng, e thẹn khi bắt đầu chính thức cuộc sống vợ chồng.
Putra Jatrai

9 thg 1, 2011

Nhẫn và nhẫn cưới

9 thg 1, 2011 - by Ana · - 0 Comments

Nhẫn tượng trưng cho năm tháng: Thời xa xưa, chiếc nhẫn không chỉ có tác dụng làm trang sức đeo trên tay, nó còn là vật cúng tế ở các đền chùa miếu mạo hay những gò đất quanh nhà. Loại nhẫn này thường làm từ các loại ngọc trai khác nhau, hoặc những viên đá quý hình tròn. Các kết quả của ngành khảo cổ học và nhân chủng học cho thấy, loại nhẫn này được người xưa coi là gốc của vạn vật, tượng trưng cho thần mặt trời luôn tỏa sáng, mang lại hơi ấm cho nhân gian, mang hạnh phúc đến muôn nhà và sự bình an may mắn cho mọi người. Đồng thời, nó còn tượng trưng cho sự tồn tại vĩnh hằng của cái đẹp, là đại biểu cho chân lý và đức tin. Đến thời kỳ cận đại, trong các đám cưới ở Nga, người ta thường thấy chú rể đeo chiếc nhẫn vàng tượng trưng cho mặt trời rực lửa, còn cô dâu mang chiếc nhẫn bạc tượng trưng cho ánh trăng thuần khiết, dịu hiền.

Nhẫn tượng trưng cho sự tự do và tôn nghiêm: Đó là quan niệm của những người nô lệ thời Hy Lạp cổ đại. Hồi đó, họ thường đeo nhẫn vàng, biểu tượng cho tinh thần tự do và tôn nghiêm. Việc đeo nhẫn cũng có những quy định hết sức khác nhau. Những người giàu có thời La Mã cổ đại quy định đeo nhẫn theo mùa. Mùa đông, họ đeo nhẫn to, nặng và có hình vuông; ngược lại, mùa hè đeo chiếc nhẫn nhỏ xinh xắn. Nếu là nhẫn đồng có thể đeo ở tay phải hay tay trái. Nhưng nếu là nhẫn ngọc hay đá quý, con trai phải đeo tay trái, con gái đeo tay phải.

Nhẫn làm tín vật và bùa hộ mệnh: Thần dân của đế quốc La Mã thường đeo nhẫn gắn ngọc trai hoặc hổ phách, và coi đó là bùa hộ mệnh chở che cho mình. Chiếc nhẫn của các thương gia và nhà quý tộc được gắn hồng ngọc tượng trưng cho sự giàu sang phú quý. Quốc vương các triều đại đều cho khắc dấu triện của hoàng gia lên nhẫn. Loại nhẫn con dấu này không chỉ là vật trang sức quý báu của vua, nó còn là tín vật để vua truyền ý chỉ. Chiếc nhẫn còn có liên quan đến y học và tôn giáo. Tương truyền, bích ngọc có thể chữa được nhiều bệnh khác nhau, vì thế khi làm lễ khấn giải trừ bệnh tật cho bệnh nhân, các ông thầy mo đều đeo vào tay bệnh nhân một viên hồng ngọc.

Nhẫn chìa khóa: Loại nhẫn này được ra đời vào thời La Mã cổ đại. Trong các lễ cưới, khi cô dâu bước vào phòng cưới, mẹ chồng sẽ đeo vào tay cô con dâu của mình chiếc nhẫn chìa khóa với ý muốn từ nay trở đi, cô gái đã trở thành thành viên trong gia đình mới, cần gánh vác và quán xuyến công việc trong gia đình như chăm sóc chồng, phụng dưỡng cha mẹ chồng và nuôi dạy con cái. Trong suốt cuộc đời làm vợ làm mẹ, người phụ nữ không được tháo chiếc nhẫn này ra, bởi nó tượng trưng cho tiết hạnh, đạo đức và trách nhiệm của mọi nàng dâu.

Nhẫn đính hôn và nhẫn cưới: Thời Ai Cập cổ đại, sáng sớm hôm tổ chức hôn lễ, chú rể trao cho cô dâu một chiếc nhẫn hình tròn chưa được mài dũa, gia công và khảm đá. Chiếc nhẫn thô này tượng trưng cho sự thủy chung và tình yêu vĩnh hằng của chú rể đối với cô dâu. Từ sau thế kỷ 16, trong các lễ đính hôn hay lễ cưới, hai bên nam nữ đều phải trao nhẫn cưới cho nhau. Chiếc nhẫn đính hôn thường có hình đôi bàn tay nắm chặt vào nhau, biểu tượng của lòng chung thủy sắt son. Loại nhẫn này ngày nay vô cùng hiếm. Người châu Âu thường tặng nhau chiếc nhẫn có gắn ngọc trai hay kim cương thể hiện sự sáng trong và sức sống lâu bền của tình yêu lứa đôi. Ngoài ra, các bậc mệnh phụ phu nhân ở phương Tây còn có thói quen tặng nhẫn có ký hiệu riêng cho các vị khách tới dự buổi hôn lễ. Nữ hoàng Anh Victory tự tay tặng hơn 70 chiếc nhẫn cho các vị khách tới dự lễ cưới linh đình của mình.

Nhẫn giáo chủ và nhẫn cung đình: Thời kỳ trung cổ, giáo chủ là người có quyền lực tối cao trong xã hội phương Tây. Họ thường đeo nhẫn bằng đá quý rất to, tượng trưng cho uy quyền giáo hội. Đến thế kỷ 15, các vị giáo chủ hay đeo nhẫn có khắc hình con sư tử đực dang rộng đôi cánh. Chiếc nhẫn bằng ngọc màu xanh hoặc tím tượng trưng cho tấm lòng nhân từ, đức độ, trong sáng và cao thượng của các vị giáo chủ. Đặc biệt, có vị còn khắc cả tên mình lên trên nhẫn.

Thế kỷ 17-18, trong các buổi vũ hội người ta có thói quen tặng nhẫn cho nhau. Các nhà quý tộc đua nhau mời những người thợ kim hoàn giỏi làm cho mình một chiếc nhẫn đặc biệt. Không ít người còn cho khắc cả chân dung của quốc vương, của tổ tiên thậm chí của bản thân mình lên mặt nhẫn bé xíu. Đó là cách để họ bày tỏ lòng kính trọng của mình đối với triều đình và tổ tiên.

17 thg 11, 2010

Phong tục cưới cổ truyền của người Việt

17 thg 11, 2010 - by Ana · - 0 Comments

Theo chữ nghĩa, sách vở thì trai gái lấy nhau, gọi là giá thú (giá là lấy vợ, thú là lấy chồng) nhưng nhân gian ta vẫn gọi nôm là đám cưới, hoặc gọn hơn là cưới.
Trong đời sống tinh thần của người Việt (Kinh) thì cưới là một chuyện hệ trọng trong cuộc đời của mỗi con người. Dân gian có câu: “Tậu trâu cưới vợ, làm nhà. Trong ba việc ấy thật là khó thay”. Cưới là một phong tục, một nghi lễ đậm phong vị dân tộc nhưng lại nhiêu khê tốn kém. Phần lớn các đám cưới cổ xưa của người Việt thường được tổ chức theo một cuốn sách cổ gọi là Thọ mai gia lễ – cuốn sách dạy người ta những việc về quan, hôn, tang, tế. Về sau tuỳ từng vùng, từng thời, từng gia cảnh mà việc hỷ (cưới) được tổ chức khác nhau. Nhưng cho dù là ở đâu, thời nào thì một đám cưới truyền thống cũng gồm các thủ tục, các bước chính là: kén chọn, giạm ngõ (chạm mặt), hỏi, cưới, lại mặt và nộp cheo.
Kén chọn: Lệ xưa việc lấy vợ, gả chồng là việc của cha mẹ, vậy con cái đến tuổi trưởng thành thì cha mẹ tiến hành kén rể, kén dâu. Kén rể, kén dâu là một công việc tiền hôn lễ nhưng rất quan trọng. Trước hết là việc xem xét gia đình dự định trở thành thông gia xem thuộc loại gia đình như thế nào, có môn đǎng hộ đối không? Ca dao cổ có câu “Mua thịt thì chọn miếng mông, lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi” cho bên gái. Lại có câu “Lấy vợ kén tông lấy chồng kén giống” cho cả hai bên. Sự kén chọn của nhà trai bao giờ cũng chủ động nên kỹ càng hơn. Truyện Kiều có một câu:

Trǎm nǎm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông
Cô dâu tương lai phải “tam hợp” tránh “tứ xung” về tuổi. Không sành việc xem tuổi thì cứ “Gái hơn hai, trai hơn một” là tốt. Đó là về tuổi còn ngoại hình thì người phụ nữ cũng phải “Lưng chữ vụ, vú chữ tâm” phải “thắt đáy lưng ong’”. Và nếu được cả con mắt lá dǎm, lông mày lá liễu nữa thì thật “đáng trǎm quan tiền”.
Giạm ngõ hay chạm mặt: Đó là lần đầu tiên đại diện nhà trai đến nhà gái, sau khi đã chọn được dâu đúng với “tiêu chuẩn”. Lần “đặt vấn đề” này hoàn toàn có tính “đánh tiếng”, “làm quen”. Nếu sau lần giạm ngõ này không có vấn đề gì thì lễ ǎn hỏi chính thức được tiến hành. Điều đáng chú ý là trong lần chạm mặt này, cô dâu, chú rể tương lai sẽ được thấy mặt nhau, vì thế còn được gọi là lễ xem mặt.
Ǎn hỏi: Có nơi gọi là lễ bỏ trầu cau, khi hai bên trai gái đã thống nhất được với nhau về mặt gia đình, đối tượng cụ thể, vào “ngày lành tháng tốt” sẽ tổ chức ǎn hỏi. Nhà trai mang lễ vật gồm trầu cau, chè thuốc, có khi là xôi gà đến nhà gái để chính thức bàn chuyện cưới xin. Trong xã hội cũ thì lễ này là lễ “ngã giá” người con gái. Nhà gái sẽ được đưa ra yêu cầu, tức là nơi thách cưới. Lệ cưới cũ, thách cưới tức là yêu sách do nhà gái đặt ra với nhà trai. Thường là thách một đôi bông tai (khuyên tai) vàng, một chiếc nhẫn, chǎn, chiếu, hòm, xiểng, quân áo cho cô dâu, ít ruộng vườn cho đôi vợ chồng mới và gạo thịt, rượu, trầu cau, trà thuốc cùng các thực phẩm khác để làm cỗ cưới. Thông thường nhà trai phải lo chuyện này trước lễ đón dâu. Vậy nên mới xảy ra sự “Giơ cao, dánh khẽ”, “thương con ngon rể, và “cò kè bớt một thêm hai” trong lễ hỏi.
Sau lễ hỏi, nhà gái mang trầu cau đi chia khắp họ nội ngoại, xóm giềng, bè bạn. Miếng trầu cau thay cho lời thông báo việc gả chồng cho con, đó chính là thứ thay cho thiếp báo, thiếp mời.
Múc nước cho nàng rửa tay
Lễ cưới: Sau khi các điều (yêu sách) đã được nhà trai thực hiện, người ta chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức lễ cưới. Trước đó, cả hai nhà đã dựng rạp, sửa sang nhà cửa đón khách. Hôm cưới, nhà trai chọn một đoàn gồm một người có tuổi (45-50), “con cái đông đàn dài lũ” còn đủ vợ chồng (song toàn), kiêng người goá vợ, goá chồng, lại giỏi ǎn nói, đối đáp, làm trưởng đoàn cùng với nǎm đến mười thanh niên trẻ, đẹp, còn “tân” (chưa vợ) gọi là phù rể, đi đón dâu. Trên đường đến nhà gái, trước khi vào cổng, đoàn đi đón dâu bị trai làng, trẻ con chặn lại bằng một sợi dây thừng hay đóng cổng lại (gọi là tục chǎng dây, đóng cổng). ở đoạn này của lễ cưới thật vui. Nhiều khi bên họ gái ra vế “đối” bắt bên kia phải “đáp” lại thật chỉnh, thật nhanh mới cho đi. Lại phải tung tiền xu cho bọn trẻ con mới được vào cổng… Sau khi đã vào đến sân nhà gái đoàn đi đón dâu được mời vào nhà ngồi chơi trên chiếu cặp điều ǎn trầu, uống nước và sau đó dùng cơm chiều. Xong xuôi, đại diện nhà trai có “người” xin dâu với họ nhà gái. Nhà gái bao giờ cũng làm ra vẻ dùng dằng, lần khần và chỉ đồng ý cho dâu đi vào giờ cuối của buổi chiều.
Đoàn đưa dâu của nhà gái cũng gồm những thiếu nữ trẻ và xinh (gọi là các cô phù dâu), đứng đầu đoàn đưa dâu cũng là một bà có tuổi còn song toàn (còn chồng) và “mắn” con. Lúc này cả đoàn đón dâu và đưa dâu cùng đi, nên đông vui. Nào ô, nào khǎn, nào nón thúng quai thao, nào yếm thắm bao xanh, môi trầu “cắn chỉ”. Trang phục cổ truyền dân tộc xuất hiện phong phú nhất là ở lúc này.
Đoàn về đến nhà trai, ở đầu cổng, pháo đã nổ giòn để đón dâu. Tối đó là lễ tế tơ hồng nguyệt lão, tiên thiên, là lễ mệnh tiếu (nghe lời cha mẹ dạy bảo). Sau cùng là lễ hợp cẩn. Cô dâu bước qua đống lửa bước vào buồng mình. Có nơi đặt một cái cối trước cửa buồng khi cô dâu bước qua, mẹ chồng cầm chày giã vào cối không ba cái. Giường của đôi vợ chồng mới cưới đã được một người đàn bà có tuổi, nhiều con cái trải chiếu cho, một chiếc sấp, một chiếc ngửa… Vào giường, cô dâu phải ngồi thật mạnh xuống, trong lúc bạn bè, chú rể đang làm náo động ầm ĩ cǎn buồng lên một lúc rồi mới đi ra. Sau đó là lễ hợp cẩn: cô dâu chú rể uống chung một chén rượu nhỏ, có nơi ǎn chung một đĩa cơm nếp, đĩa xôi… tất cả những phong tục đó nhằm mong mỏi có nàng dâu hiếu thảo, sớm có con, vợ chồng hoà thuận đến “bách niên giai lão”.
Lễ lại mặt: Sau đêm tân hôn, vợ chồng mới dắt nhau về nhà gái. Mọi việc suôn sẻ sẽ tổ chức tiệc mừng. Lễ lại mặt xưa là để cô dâu tỏ chữ hiếu với cha mẹ, mặt khác, còn có ý nghĩa cô ấy, chị ấy đã làm toại nguyện chàng trai. Trường hợp có trục trặc gì trong đêm tân hôn thì trong ngày lại mặt này bố mẹ cô dâu cũng sẽ được biết. Xưa kia, khi chú rể cùng cô dâu trở về mà đem theo một lễ có thủ lợn mà cắt mất tai thì sẽ mất vui (thủ lợn bị cắt mất tai tức là dấu hiệu cảnh báo nhà gái rằng: con gái ông bà trước khi lấy chồng đã không còn trinh trắng!). Trường hợp này nhà gái buộc phải bí mật trả lại nhà trai một số của nả, lễ vật, nhiều khi rất đáng kể mới yên chuyện.
Lễ nộp cheo: là một nghi lễ phụ trong đám cưới, nhưng nhất thiết phải có. Không có bữa khao này thì đôi vợ chồng mới không được coi là thành viên của làng xóm. Trong bữa khao, chú rể đóng vai chính, anh ta ngoài việc phải lo bữa khao còn phải nộp một số vật liệu như gạch, ngói để tu bổ các công trình công cộng của làng xóm bên gái như đình, điếm, đường làng, chùa cổng… là một thủ tục nằm ngoài hôn thú nhưng không thể không có, vì vậy ca dao cổ có câu:
Có cưới mà chẳng có cheo
Nhân duyên trắc trở như kèo không đinh
Đó là tục lệ cưới xin cổ xưa. Ngày nay đám cưới của người Việt đã có những thay đổi lớn, vừa dân tộc vừa trang trọng nhưng cũng rất tiết kiệm. Các tục cũ như tảo hôn (lấy chồng từ thuở 13, đến nǎm 18 thiếp đà nǎm con), đa thê (trên trời có vảy tê tê có anh bảy vợ chẳng chê vợ nào), đòi của hồi môn (của cô dâu mang về nhà chồng) và nhiều tục lệ nhiêu khê, tốn kém khác đã mất dần, nhường chỗ cho những tập quán mới vừa dân tộc vừa vǎn minh.
Theo VietnamNet

Blogroll

VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

Vanhoanguoiviet.com muốn gửi tới cho các bạn phong tục, tập quán,làng nghề, trang phục cũng như món ăn cổ truyền của người Việt từ xưa tới nay.

Được phát triển bởi Nguyễn Hiền|