Bài viết mới đăng
Trang chủ » Bạn đang xem tại danh mục: Món ăn truyền thống
Hiển thị các bài đăng có nhãn Món ăn truyền thống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Món ăn truyền thống. Hiển thị tất cả bài đăng
17 thg 3, 2014
Sắp Tết Đoan Ngọ, mùng 5 tháng 5 rồi, các bạn cùng mình làm cơm rượu miền Nam để chuẩn bị giết sâu bọ nhé!
Nguyên liệu:
1 kg nếp ngon
3-5 viên men giã nhuyễn
Lọ hoặc nồi thủy tinh có nắp
Cách làm:
Gạo nếp vo sạch, ngâm qua đêm rồi đổ nước xâm xấp mặt, nấu như nấu cơm nếp với chút muối
Cơm chín tới, đổ ra đĩa lớn, dùng đũa dàn cơm ra cho nguội. Khi cơm nguội, rắc đều men đã giã nhuyễn lên
Chuẩn bị lưng chén nước đã nấu chín, đeo găng tay
nylon, nhúng vào chén nước cho tay đủ ẩm, vo viên cơm nếp rắc men rồi
xếp vào thố sạch
Cắt một miếng giấy theo hình thố, đục lỗ, đặt lên trên, xếp tiếp lớp kế tiếp
Làm tiếp tục cho đến hết cơm, đậy nắp kín, đem ủ chỗ ấm.
Ngoài ra còn có cách ủ cơm rượu cho những ai ở nơi thiếu ánh nắng mặt trời và có lò nướng tốt. Đem thố cơm đặt vào giữa lò nướng, bật đèn pilot, đóng lò để đó
Múc nhẹ từng viên ra chén nhỏ, thêm xôi vò nếu thích
Chúc mọi người có những chén cơm rượu ngọt lịm, say say!
12 thg 12, 2010
Một trong những món quan trọng trên bàn cỗ nhà quan miền Bắc là bún thang. Nếu ăn trong các lễ tết thường thì bún thang đi đôi với món cuốn.
Trong các dịp mà khách dự yến tiệc phải mặc áo lễ, người ta không dọn những món mà thực khách phải đụng tay vào thức ăn, hoặc phải có những động tác không trang nhã. Món cuốn khi dùng phải đụng tay nhiều vào thức ăn cho nên bị cho là bất nhã và không được dọn trên bàn yến, dù món này cũng được liệt vào hạng món ăn thanh nhẹ.
Cũng vì thế mà trong yến tiệc quyền quý xưa kia, các món gà vịt đều được lọc hết xương cho khéo để không tuột da, rồi mới thái miếng vừa miệng và bày lên đĩa. Tôi nhớ trong món bún vịt sáo măng mẹ tôi nấu trước đây bao giờ thịt vịt cũng được lóc xương như thế. Đây cũng là sự khác biệt giữa món gà xé ngày xưa và món gà bóp ngày nay.
Mới đây một nữ chuyên gia về phép xã giao của Mỹ, Miss Manners, trong một bài phiếm luận về phong cách lịch sự trong ẩm thực Á Đông có khuyên dân Mỹ nên xếp đũa hướng về phía trước trong bữa tiệc. Có lẽ bà này hiểu lầm do cái gác đũa mà người Tàu mới sáng chế cách đây một hai thập kỷ. Tôi nhớ khi nhỏ bị huấn luyện phải đặt đũa ngang trên bát, vì xếp dọc sẽ xúc phạm đến người ngồi trước mặt.
Quan trọng nhất của món thang là nước dùng, trong đó vị gà và vị tôm khô rất quan trọng. Để nấu một nồi nước dùng của bún thang cho đúng cách cầu kỳ của nó, người ta thường nấu hai lần gà. Con gà đầu chín vừa đủ để lấy thịt xé tơi ra bầy vào bát. Xương của nó được cho vào nồi ninh tiếp với con gà thứ hai cho đến khi nhừ để làm nước dùng.
Phần tôm khô trong nước dùng của bún thang ít nhất phải bằng một phần tư gà, luộc với lượng nước vừa phải trong một nồi nhỏ cho đến khi chín nục, rồi chắt thật kiệt nước vào nồi nước dùng gà. Xác tôm không nên bỏ đi, vì có thể được dùng để làm ruốc tôm bằng cách cho vào cối giã dập, trộn thêm chút muối rồi cho vào chảo rang khô làm ruốc.
Để làm ruốc tôm bún thang cho đúng cách thì phải dùng tôm he khô còn vỏ. Nướng tôm hơi cháy, bóc vỏ, bỏ vào cối giã dập. Cho tôm vào rổ, trộn thêm vào đấy bột tẻ hay nếp, rồi dùng trôn bát chà xát cho bông lên. Sau đó rây hết bột. Thịt gà xé thật tơi. Trứng tráng mỏng như giấy, thái chỉ. Giò lụa cũng thái chỉ.
Bún thang được dọn trong bát chiết yêu (lớn vừa) rộng miệng, nông lòng. Chỉ bỏ bún vào một phần ba bát. Bầy đều bốn phần trứng, gà xé, giò lụa và ruốc tôm trên mặt bún. Người xưa dùng độc nhất rau răm thái nhỏ với bún thang. Nước dùng được cho vào ngang mặt các thức bày, không lõng bõng. Nếu lượng tôm khô, sá sùng trong nước dùng quá ít, không dậy đủ hương vị, người ta sẽ thay mùi, vị bằng mắm tôm. Một giọt tinh chất cà cuống được nhỏ vào bát, và cũng có nhiều nhà dùng thêm ít miếng dưa món củ cải với bún thang. Không bao giờ cho chanh, tiêu, ớt vào món ăn thanh cảnh này.
Món cuốn thì đơn giản hơn. Thịt lợn ba chỉ luộc thái lát, tôm luộc bóc vỏ để nguyên con hay chẻ đôi chiều dọc, húng dũi, răm và bún được cuốn vào lá rau diếp (xà lách) rồi buộc lại bằng hành lá nguyên củ đã hấp chín. Cuốn chấm bằng phần cái của bỗng rượu nếp xào với mật đường nâu. Cũng có nơi dùng nước mắm ngon pha nước thịt kho, nhiều khi có gia thêm cà cuống.
Bên cạnh sự thiếu vắng, biến thể của các món cỗ cổ truyền, các món ăn dân dã ngày nay ở một số nơi cũng bị thay đổi. Ngay như món bún bò Huế. Trước tiên nhiều người đã đánh mất hai vị sả và ruốc đặc thù của bún Huế. Bún to sợi truyền thống hoàn toàn biến mất. Rồi các loại rau thơm, diếp, và ngay cả giá sống, cũng làm lạc đi cái hương vị riêng của bún bò, bún giò heo.
Trước đây người ta hòa xác ruốc vào nước cho đủ vị mặn. Đun sôi khoảng vài giờ để lấy hết chất ngọt từ xác ruốc và để ruốc đỡ nặng mùi. Chờ cho ruốc lắng rồi chắt lấy nước trong. Xương bò trần nước sôi cho sạch bỏ vào nấu với nước ruốc. Bỏ vài khúc mía đã róc vỏ vào nồi để mía hút bớt chất tanh của xương để nước dùng được thanh. Không đậy vung, và thả vào nồi vài củ cải để nước thêm trong, nếu cần. Phải hớt sạch cặn, bọt của xương nổi trên mặt nước, hoặc bám vào thành nồi.
Thịt bò bắp bỏ vào nấu cho đến khi mềm, vớt ra để nguội rồi thái lát. Riêng giò móng heo thái khoanh sẽ nấu riêng cho đến khi chất đục, tanh của mỡ và da ra hết mới cho vào nồi. Ớt màu cho vào nước từ sớm, trong khi một bó sả được bỏ vào nồi khoảng nửa giờ trước khi ăn, để sả vẫn còn hương nhưng đã hết vị hắc. Rau răm cùng hành Tây và bắp chuối thái mỏng là phụ gia chính của bún bò Huế. Nhiều nơi còn cho thêm tiết luộc, gân, chả cua vào bún, và nay trở nên phổ biến.
Cũng như nước dùng của bún bò, nước dùng phở Bắc cũng phải nấu mở vung và vớt váng để nước trong. Xương nấu phở bò tốt nhất là xương đuôi hay những khúc xương khớp, trần nước sôi khoảng ba lần cho bớt chất tanh rồi mới nấu. Các cụ cũng thả vài khúc mía đã róc vỏ xuống đáy nồi không chỉ để thêm vị ngọt, mà còn để mía hút bớt mùi hoi của xương.
Nước phở bò có các vị tiêu, quế, hồi, gừng, hành nướng và thảo quả. Nước phở gà cũng nấu hai lần gà như bún thang, nhưng có các vị gừng, tiêu, và hành nướng hoặc không nướng tùy hỷ. Nhiều nơi còn cho thêm quế vào nước phở gà.
Trên đây chỉ là một phần nhỏ trong kho tàng ẩm thực cổ truyền của Việt Nam. Tuy thế chúng cũng cho thấy được những sắc thái, hương vị đặc biệt của nền hỏa đầu Việt. Các cụ ngày xưa rất nghiêm túc trong việc dùng rau thơm và gia vị. Những câu đồng dao phổ thông như “con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi…” đã minh chứng cho điều này.
Có nhiều người nghĩ rằng ẩm thực Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Hoa. Nhưng trong khi người Việt dùng bao loại rau thơm làm yếu tố thiết yếu trong việc nấu nướng, thì người Trung Quốc chủ yếu chỉ dùng có hành và ngò (mùi) mà thôi. Có một số gia vị hay rau thơm được dùng phổ biến ở Việt Nam, nhưng cũng được một hai vùng trên thế giới dùng, tuy hạn chế hơn.
Thức ăn Việt Nam khác biệt hẳn với các nước chung quanh và thế giới ở vị rau răm, một vị mát, với tính diệt dục của đạo Phật. Rau răm được người Việt cổ dùng với hầu như tất cả các món ăn, trừ thịt vịt và các món có nghệ. Sau đó là tía tô, hợp với thịt lợn và những món có nghệ của người Việt, và không thấy ở nơi nào khác.
Rồi vị riềng, ngoài Việt Nam chỉ thấy được sử dụng trong ẩm thực Thái Lan. Với những món mà các nước đồng văn khác là Trung Hoa, Nhật và Hàn Quốc dùng gừng, thí dụ như thịt chó, gỏi cá, thì người Việt dùng riềng. Riềng không hợp với các loại gia cầm.
Vị nghệ rất phổ thông ở Việt Nam cũng được người Ấn Độ dùng trong món cà ri của họ. Thì là được cả người Việt lẫn các nước Âu Mỹ dùng với các loại cá nước ngọt. Húng đi đôi với hải sản, thịt heo, lòng... ở Việt Nam, nhưng người Mỹ dùng với hải sản hoặc để pha với các loại nước giải khát.
Rau kinh giới được người Việt dùng với hải sản và vài món hải sản biến chế thí dụ như bún riêu, miến lươn, thì người Hàn và Nhật cũng dùng kinh giới với một số gỏi đồ biển của họ, nhất là món gỏi gan cầu gai. Tất cả các loại rau, rễ này không thấy được sử dụng trong nghệ thuật nấu nướng Trung Hoa./.
Theo TT&VH
Nhắc đến những đặc sản của Hà Nội, chắc chắn nhiều người sẽ nghĩ ngay đến món bánh tôm nổi tiếng.
Những chiếc bánh tôm nóng, giòn, thơm ngậy với thứ nước chấm pha đủ vị mặn, ngọt, chua, cay sẽ làm không khí trong những câu chuyện thêm gần gũi và thú vị hơn.
Không thể thiếu đối với món bánh tôm là các loại bột. Bột nở, bột nghệ và muối đều là những loại gia vị gần gũi, thường xuyên có mặt trong bếp của mỗi gia đình. Trộn lẫn tất cả, hòa với nước rồi quấy đều thành một hỗn hợp. Cho dầu ăn vào ngang lưng chảo, đun sôi.
Chiếc chao bánh là một công cụ giúp làm món bánh tôm được nhanh và tiện lợi nhất. Tôm để làm bánh là loại tôm nước ngọt, cỡ vừa phải, rửa sạch, để ráo rồi cắt bỏ sạch râu. Khi dầu sôi, hớt bột làm bánh lên mặt chao rồi nhẹ nhàng đặt tôm lên, từ từ nhúng ngập trong chảo dầu cho đến khi chín. Khi ấy bánh phồng lên và ngả màu vàng có mùi thơm rất hấp dẫn.
Chiếc bánh bằng lòng bàn tay rán giòn có màu vàng, ở giữa chiếc bánh là màu đỏ của tôm. Bánh tôm phải ăn khi vẫn còn nóng, nếu để nguội sẽ ỉu và có thể bị tanh. Bao giờ cũng có một loại nước chấm chuyên đi cùng, vị chua, ngọt và cay, thêm chút dưa góp làm từ đu đủ, cà rốt thái nhỏ ngâm giấm.
Bánh tôm được ăn cùng với rau xà lách, có thể ăn thêm với bún rối. Tinh hoa ẩm thực của người Hà Nội có nhiều, nhưng có lẽ trong số ấy chúng ta cần phải nhắc đến bánh tôm, đây thực sự là một nét đẹp ẩm thực nói lên sự khéo léo và sành ăn của những con người hào hoa, thanh lịch từ nhiều đời nay.
Theo Baomoi.com
5 thg 11, 2010
Bánh lọc vốn từ trong Huế, Đông Hà ra rồi neo lại ở Quảng Bình, được bổ sung thêm hương vị mới, trở thành một món ăn đặc biệt nhất của tỉnh Quảng Bình. Không mấy ai qua Đồng Hới lại không muốn nếm thử và mua bánh làm quà.
Nguyên liệu của bánh lọc chỉ đơn giản là bột sắn lọc, tôm, mộc nhĩ và một ít gia vị khác của vườn nhà. Tôm dùng cho bánh chỉ là loại nhỏ ở cửa sông, vừa đậm vị phù sa của đồng, vừa mặn mòi vị biển.
Bột sắn sau khi đã lọc, đem luộc chín vài phần (khi nhìn thấy lớp ngoài trong suốt), phần nhân bên trong còn trắng, sồn sột sống. Vớt bột ra để nguội, đem nhồi kỹ trộn phần sống lẫn phần chín. Đây là thao tác công phu nhất của người làm bánh lọc.
Mỗi chiếc bánh bột lọc bọc một con tôm, ít lát thịt rim và gia vị, vắt thành hình một tai bèo nhỏ. Có thể đem trụng (nhúng) nước sôi ăn ngay hay gói lá chuối đem hông (đồ như đồ xôi), dành cho người mang đi xa. Loại bánh gói này có thể để nhiều ngày, khi ăn, đem hấp lại cho nóng, vẫn thơm dẻo như bánh mới.
Bánh lọc Quảng Bình được chấm với nước mắm chắt Quảng Bình với những lát ớt cay xé lưỡi mới càng đáng nhớ.
Ở Quảng Bình ngon nhất là bánh lọc của mệ Xá ở Đồng Phú, Đồng Hới. Loại bánh dày công, đủ chất bổ dưỡng ấy lại rất rẻ, chỉ 200 đồng một chiếc. Chỉ vài chục nghìn là cả nhà có thể có được bữa liên hoan hoặc mang đi xa thành một món quà quý
Theo: vanhoavietnamThời thơ ấu, có những buổi chiều hè dầm mình tắm mưa, vô nhà rồi mà môi còn tím tái, người rét run vì thấm lạnh. Lên bàn ăn, mẹ dẽ cho miếng cá rô kho tộ vào chén cơm nóng hổi.
Miếng cá ngọt mềm, béo ngậy, quyện cùng mùi thơm gạo mới. Vị ngọt còn nhớ đến bây giờ.
Cà Mau còn nổi tiếng có món cá rô chiên xù. Ngày xưa, cá rô mề chiên xù là một trong những món ăn mùa lúa chín đầy đồng. Còn cá rô non theo nước đi từng đàn, người ta có thể bắt bằng đăng, đó, hay lưới. Lúc này, cá chỉ mới lớn to cỡ ngón tay cái. Cá rô non mới bắt về để nguyên con, rửa sạch bằng nước muối, có thể cho vào chảo mỡ đang sôi. Cá chín vàng ươm, giòn luôn cả xương, ăn với nước mắm chanh tỏi ớt hoặc nước mắm gừng, nhai rau ráu thật đã miệng. Thế nhưng, hiện nay để bảo vệ nguồn cá đồng, những món như thế này không còn nữa.
Cá rô mề thì kho tộ là ngon nhất. Cá sau khi làm sạch, bỏ vào cái tô bằng sành (loại sành nung già ướp với một chút nước mắm ngon, đường, tiêu, chút nước màu dừa, một ít tóp mỡ hoặc dầu ăn, để khoảng nửa giờ cho thấm hết gia vị mới bắt đầu kho. Cá kho tộ thường dùng lửa liu riu, không dùng lửa to ngọn.
Khi cá đã thấm đều, mềm, thơm, nước cá sền sệt, rắc thêm một lần tiêu bột trước khi nhắc xuống. Cá thơm phưng phức mùi tiêu, vẫn còn sôi lụp bụp trong tộ đất. Ngoài ra, cá rô đồng nấu canh chua với bông so đũa, hoặc bông điên điển cũng là món ngon, nhưng cá rô nhiều xương coi chừng khó nuốt. Nấu canh với khổ qua có đặc trưng riêng. Lựa con cá rô mề thật to, làm sạch đem luộc chín, gạt bỏ xương. Khổ qua xắt mỏng cho vào nồi nước luộc cá nấu vừa chín là cho thịt cá vào, nêm nếm. Vị ngọt béo của cá cộng với vị đắng của trái khổ qua làm thành hương vị thật khó quên.
Người quê dần dà về thành phố. Lâu lâu nhớ đồng, lại tìm kiếm trong các nhà hàng thấy có món cá rô nhưng hương vị đã mất đi nhiều.
(Theo baoanhdatmui.vn)
4 thg 11, 2010
Tết đến, trong nhà thường có những món ăn cổ truyền: bánh chưng (miền Nam có bánh tét) và tùy theo vùng miền mà có những món ăn khác nhau. Những món ăn cổ truyền rất đơn giản như thịt đông (miền Bắc), thịt kho nước dừa (miền Nam), tré (miền Trung) cứ "đến hẹn lại lên", mang theo một truyền thống và những nét đặc thù của văn hóa Việt.
Bánh chưng là linh hồn của món ăn ngày Tết Việt Nam, một sản vật tôn vinh thành quả lao động của nền văn minh lúa nước. Bên ngoài bánh có màu xanh của cây lá; bên trong có đủ thịt mỡ, hành, đậu xanh..., đều là nông sản. Vào tới miền Trung và miền Nam, chiếc bánh chưng "biến tấu" thành bánh tét, do thiếu lá dong nên được gói bằng lá chuối và từ hình vuông thành hình trụ.
Các món ăn tết của mỗi miền dù khác nhau đến đâu cũng không thoát khỏi mô hình canh - rau - mặn. Miền Bắc ăn nhiều chất béo để giữ ấm. Tết rất lạnh, nên mới có món thịt đông. Dịp Tết cũng là chính vụ su hào, bắp cải, hành... để tạo ra các món ăn đặc trưng cho ngày tết: dưa hành, dưa góp...
Theo bà Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân, sự khác biệt của món ăn các vùng là do phong thổ, vị trí địa lý. Chịu ảnh hưởng của gió biển, gió núi, khí hậu khắc nghiệt, các sản vật miền Trung không thể phong phú bằng hai miền Bắc, Nam. Vì vậy, các món ăn có nhiều vị cay, mặn (ăn mặn có thể do tính tằn tiện, còn ăn cay để chống lại cái lạnh cũng như kháng lại mùi tanh của cá). Trong khi đó, món ăn ngày tết của miền Nam nhiều cá, thịt, cây trái. Khi chế biến, món gì cũng được cắt to, thái dày.
Chẳng hạn, món thịt kho ngày tết bao giờ cũng thái vuông lớn thay vì thái lát mỏng như ngày thường. Từ mâm ngũ quả của miền Bắc vào đến miền Nam đã trở thành "mũ quả", ngồn ngộn những hoa tươi, trái ngọt phương Nam. Người Nam còn sắp trái cây theo kiểu chơi chữ, như cầu vừa đủ xài với quả mãng cầu, dừa (vừa), đu đủ, xoài (xài). "Văn hóa cuốn" cũng là đặc trưng của món ăn ngày Tết Nam Bộ.
Món ăn ngày tết còn là biểu hiện cao nhất của tính mỹ học trong ăn uống của người Việt. Ăn cỗ tết là thưởng thức một tác phẩm cả bằng tâm hồn lẫn các giác quan. Ngày tết, nhà nhà đều mâm cao, cỗ đầy. Mâm cỗ người Bắc đủ giò, nem, ninh, mọc, 6 bát, 6 đĩa. Thức ăn được xếp lên mâm, chưa ăn đã thấy "sướng". Miếng bánh chưng xanh điểm màu vàng của nhân đậu, màu trắng ngà của thịt mỡ, màu tím của hành. Món dưa góp có màu trắng xanh của su hào, màu trắng ngà của giá đỗ, màu xanh của hành hoa, màu đỏ của cà rốt, màu vàng hươm của miếng đu đủ...
Ngay đến bát nước mắm nho nhỏ cũng được "trang trí" bằng màu trắng của những tép tỏi và điểm xuyết thêm vài cánh ớt đỏ tươi. Dù vậy, nếu có dịp thưởng lãm món ăn Huế ngày Tết mới thấy hết cái rực rỡ của sắc màu. Món ăn Huế không chỉ đẹp bởi chén bát mà cả trong cách sắp xếp thức ăn, mỗi bát mỗi đĩa là một tác phẩm nghệ thuật rực rỡ.
Cái ăn ngày Tết không chỉ đơn thuần là vấn đề ẩm thực. Nó còn là văn hóa, là quốc hồn quốc túy. Nhân dịp năm mới, cũng nên bàn lại một chút về cái hay cái đẹp của món ăn ngày Tết để thêm yêu quý, trân trọng những giá trị truyền thống của dân tộc.
Nguồn: Tuoitre.vn
1 thg 11, 2010
.jpg)
Từ muôn đời nay trong cuộc sống hàng ngày chuyện ẩm thực quả chiếm nhiều thời gian. Nhưng người ta thích ăn ngon hoàn toàn không chỉ vì đói mà còn vì những niềm vui tinh thần nữa. Đối với người Huế, chuyện ăn uống được coi là một nghệ thuật và là một lạc thú ở đời.
Huế đã từng có mấy thế kỷ là trung tâm của Đàng Trong thời chúa Nguyễn, đến thế kỷ XIX là đất kinh kỳ phồn hoa đô hội, với non một thế kỷ rưỡi làm Kinh đô nước Việt, nơi quy tụ của một triều đình với biết bao quan lại, nho sĩ. Vì thế, ngoài chốn vương triều còn có các tầng lớp quý tộc và thượng lưu, trí thức, đa số các tao nhân mặc khách đều tụ họp về đây. Điều đó đòi hỏi người Huế không chỉ giỏi chế biến các món ăn cực kỳ tinh tế chỉ dùng trong chốn vương phủ. Ngày nay tuy không còn giữ vai trò của một trung tâm kinh tế - chính trị lớn hàng đầu đất nước, nhưng Huế vẫn là nơi duy trì những bóng dáng xưa cũ của một triều đại với tất cả lối sống của một thời vàng son. Và dĩ nhiên, trong những đặc trưng văn hóa lâu đời của Huế, vốn văn hóa về ăn uống góp một phần không nhỏ trong việc hình thành nét văn hóa và phong cách con người xứ Huế.
Huế là một vùng đất được khai phá muộn, phần đông là dân tứ xứ theo chúa Nguyễn vào nam lập nghiệp. Vì thế món ăn cũng phong phú, hội tụ được tinh hoa của các nơi khác, biến thành món ăn riêng mang bản sắc độc đáo địa phương.
Món ăn Huế vừa có sang trọng, cao lương mỹ vị, vừa có món mộc mạc nhưng do khéo tay, biết chế biến, biết cách thức nêm nấu nên vẫn trở thành món ăn thi vị.
Các món ăn quý tộc được triều Nguyễn cho phép hẳn hoi trong sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ quy định cho từng loại tiệc: tiệc tiếp sứ bộ với ba loại cổ: loại một mâm gồm 50 món, loại hai có 7 mâm gồm 40 món, lọai ba có 25 mâm gồm 30 món… Những món đó được bày trong 1080 bát, dĩa quý chỉ dùng trong chốn vương phủ.
Ngày nay dù không còn phải lặn lội đi tìm những đặc sản quý để nấu những món ăn “Ngự thiện” phục vụ cho vua chúa nữa, những nem công, chả phượng, da tây ngu, bàn tay gấu, gan nai, môi đười ươi, thịt chân voi… nhưng những loại đặc sản có bốn mùa của địa phương, người nội trợ có thể nấu tới 300 món ăn vừa dân dã lại vừa sang trọng.
Món ăn dân dã và khó quên nhất là cơm hến. Đó là một món ăn giản dị, đượm đầy hương vị đồng quê được làm từ một sản vật nằm trong lòng con sông thị vị của xứ Huế. Cơm hến ngon nhờ tài pha chế một tổ hợp nhiều thành phần các loại gia vị: rau thơm, bắp chuối, cọng bạc hà thái nhỏ, tương ớt, mắm, muối, me, đậu phụng giã mịn, nước mắm tỏi, tóp mỡ và cơm trắng để nguội. Đặc biệt là sự góp mặt của ruốc sống, cơm hến ngon ngọt cũng chính nhờ vị ruốt này.
Món ăn Huế giản dị, phong phú, mang hương vị, mùi ngon đằm thắm của sản phẩm nơi đồng ruộng, đầm phá, núi sông xứ Cựu đô. Chỉ từ cây sả và muối, người nội trợ thêm vào một ít tôm thịt băm nhỏ cùng các gia vị khác như tỏi, đường, ruốc, tiêu qua bàn tay mềm mại và khéo léo của các bà, các cô nội trợ có thể thành món muối sả mà bạn được ăn với cơm vào mùa đông xứ Bắc thì e rằng chẳng bao giờ quên được. Buổi cơm ở Huế thường khi chỉ đơn giản vài ba món, như cá bống thệ kho răm rau với nước dừa, một món canh rau tập tàng mà vườn nhà ai cũng có sẵn, với vài ba lá bông ngọt (lá rau ngót), lá mồng tơi, ngọn sần, búp hoa bí ngô, đọt cây bát ngát, ít măng vòi … sang một chút thì nấu với tôm thịt, còn không thì lấy cá long hội (loại cá nhỏ) rút xương, thêm chút nước mắm ngon, một tí ruốc, ít hồ tiêu phi thơm hành mỡ, xào qua là được bát canh rau tập tàng ngọt lịm. Bữa ăn nào của mọi gia đình Huế cũng đều có dĩa rau sống và một chén nước mắm phù hợp với món ăn. Có người cho rằng, dĩa rau sống ở Huế là một vũ trụ thu nhỏ với là cà chua đỏ xếp xung quanh tượng trưng cho mặt trời, những lát khế hình ngôi sao thay cho những vì tinh tú, lát vả hình trăng khuyết màu tím phớt, lát chuối chát hình tròn điểm hạt tượng trưng cho mặt đất bao la, một chút rau thơm xanh và vài sợi rau muống, ớt tươi xoắn xít phía trên như những mảng mây xanh, mây hồng bồng bềnh trên nền trời của các màu xanh, đỏ, tím, vàng…
Ngoài các món ăn dân dã mà tinh tế ở ngoài dân gian, những món ăn ngon lúc đầu chỉ dành cho giới quý tộc trong các vương phủ, dần cũng theo chân người nội trợ ra phục vụ cho những gia đình khá giả trong các dịp lễ, tết, cúng kỵ, hay thiết đãi bạn bè. Mọi người có thể biết tới chả lụa Thành Hân, nem chua An Cựu và nhiều món ăn khác.
Thật là thiếu sót nếu nói nhiều về nón ăn Huế mà không nhớ đến món ăn chay. Vì xưa nay ai cũng biết đến Huế đã từng có một thời gian dài. Thời các chúa Nguyễn, Phật Giáo trở thành quốc giáo. Cả một lớp quý tộc ăn chay nên các món ăn chay ở Huế rất phong phú (có khoảng 125 món). Các món ăn chay được làm cầu kỳ và ngon không kém món ăn mặn. Đối với các gia đình Phật tử ở Huế mà mời bạn bè ăn một bữa cơm chay, thì đó là một cách bày tỏ sự quý mến và trân trọng người bạn của mình lắm.
Cùng với các món ăn trong bữa cơm gia đình,người Huế còn có những món ăn đặcsản như: giò heo, bún bó, mà nổi tiếng nhất là bún Gia Hội, chợ Tuần. Ngoài ra còn hàng chục loại bánh mặn, bánh ngọt mà ai đã một lần nếm thử, hẳn không quên được món quà đặc sắc chốn Cựu kinh. Đó là các loại bánh nổi tiếng gắn liền với các địa danh: bánh khoái Đông Ba, bánh bèo Ngự Bình, bánh canh Nam Phổ, bánh ướt thịt nướng Kim Long…
Chè Huế cũng phong phú không kém gí các loại quà bánh. Có thể kể ra 36 loại chè khác nhau, đủ sức hấp dẫn trong buổi tối mùa hè nóng nực đi dạo mát hai bên bờ sông Hương: chè bột lọc bọc thịt quay, chè đậu ván, chè đậu xanh đánh, chè đậu ngự, chè đậu huyết, chè hạt sen bọc long nhãn... món nào cũng đem tới cho ta sự thích thú đặc biệt. Trái cây xứ Huế tập hợp được nhiều loại của ba miền, đặc biệt còn có những thứ là đặc sản địa phương như thanh trà Nguyệt Biều, quýt Hương Cần...
Theo: 3.thuathienhue.gov.vn
25 thg 10, 2010
Quán mọc bên sông Từ 5 giờ chiều bước trên chiếc xích-lô của chồng, chị Thương đặt rổ rau sống cao ngút, rổ bún trắng phau, những lọ mắm vàng nâu, bát tương ớt đỏ sánh, những xâu nem chua, đòn chả còn ấm nóng cùng với những cái tô đã được xếp thành chồng cao vút lên trên chiếc bàn nho nhỏ. Người chồng sau khi xếp lại mấy cái ghế nhựa cho ngay ngắn lần lượt treo mấy cái lồng đèn điện lên cây thong thả ngồi đợi khách đến.
Bên kia,hai mẹ con bà Hoa cũng đang bày gần chục cái nồi chè trên mặt bàn, mùi thịt nướng của quán o Huế được gió bẩy đi khắp nơi. Trong không khí phục vụ ở khu phố ẩm thực đêm dường như đã sẵn sàng...Nằm trên con đường Bạch Đằng gió lộng vừa qua khỏi cây cầu Gia Hội trầm mặc là bạn đã lạc ngay vào khu phố ẩm thực với muôn ánh đèn đủ mầu sắc và muôn vàn mùi vị thơm phức. Khoảng 50 quán san sát nhau với đủ loại món từ loại thường nhất trong đời sống của người dân Huế như bún mắm nêm, cháo lòng, cháo bánh canh đến những loại vương giả hơn như bún bò giò heo, bún thịt nướng, nem lụi đến các loại bánh chỉ có ở đây như bánh bèo, bột lọc, nậm, ít... Có rất nhiều loại để bạn chọn. Riêng chè thôi cũng đủ làm bạn băn khoăn vì không biết nên ăn món nào trước. Từ chè bắp Cồn Hến, chè trôi nước thơm mùi nếp, chè hạt sen và đậu Ngự xưa vua vẫn hay dùng đến chè bột lọc bọc heo quay ngọt béo mà không ngấy, chè đậu ván dẻo sánh, chè đậu xanh, đậu đỏ mềm lự, chè khoai tía...
Càng về khuya quán càng đông và thức luôn cùng với họ không chỉ là những người khách du lịch mà còn có cả những người Huế vốn nổi tiếng lâu nay về thói quen đi ngủ sớm. Những bàn tay thoăn thoắt múc đồ ăn, những tiếng xuýt xoa của khách và những giọng Huế đã làm cho khu phố vốn yên ả trở nên tấp nập... Phố bánh canh đèn dầu Trong lúc đường Đinh Tiên Hoàng lúc nào cũng sáng rực bởi hàng điện đường thì ở phố Hàn Thuyên ngay bên cạnh, những ngọn đèn dầu tù mù được đặt bên cạnh những cái nồi bột mỳ, bột lọc nghi ngút khói. Chẳng hiểu tự bao giờ nó có tên là "phố bánh canh khổ" cái giá 1.000 - 2.000 đồng/tô bánh canh có thể phần nào lý giải tên gọi này.
Khởi đầu là chỉ dăm quán, đến nay con số ấy đã lên đến vài chục. Không một ánh điện, tất cả đều là thứ ánh sáng được hắt ra từ mấy chục ngọn đèn dầu leo lét. Lúc chưa có khu phố đêm Gia Hội, đây được xem là nơi ngủ muộn ở Huế mặc dù từ đầu cho đến cuối phố cũng chỉ bán độc một loại món ăn mà thôi. Bắt đầu từ 15 giờ đến 2 giờ sáng, bất kể trời mưa hay nắng, những bóng người bán và người ăn cứ hắt dài và lặng lẽ trong màn đêm. Không ồn ào, không chật chội, con phố này ngày càng trở nên không thể thiếu đối với những học sinh, sinh viên nghèo, những người lao động bình dân và cả đối với những người yêu cái lãng mạn, cái thơ mộng của cái góc nhỏ thiếu sáng trong kinh thành Huế... Từ "ngõ vắng xôn xao" đến phố thuốc lào
Đó là một con hẻm đối diện với bờ bắc chân cầu Tràng Tiền và là con phố ăn khuya có bề dày tên tuổi. Người Huế đã quen gọi nó là "ngõ vắng xôn xao". Vừa từ xa, bạn đã có thể cảm nhận được trọn vẹn sự "xôn xao" của con hẻm qua những âm thanh loảng xoảng của dao, thớt, của nước đá với bia, của bát đĩa và cả tiếng người mua lẫn người bán. Nằm ngay trung tâm nên nơi đây không thiếu ánh sáng, đèn của cầu Tràng Tiền hắt lại, của hàng điện đường chiếu thẳng tới, của riêng từng quán nên cũng vì vậy mà dường như khách du lịch thích đến đây. Còn người Huế bản tính vốn rất e dè sẽ chọn những quán ít lộ thiên hơn. Với những ai mê cái tiếng rít sồn sột của ống điếu thì dẫu trời mưa dầm lạnh lẽo cũng không thể cản bước chân của họ tìm đến những quán nước nhỏ khiêm tốn ở sân ga. Một cái bàn nhỏ bày ba gói thuốc lá, một hộp kẹo lạc, một bó đóm, mấy cái ly nhỏ... đó là những gì rất giống ở bất kỳ một hàng nước chè nào ở miền Bắc.
Mệ Bảy, người đã hai mươi ba năm bán nước chè ở đây có thể đọc vanh vách cho bạn giờ đến - đi của những chuyến tàu trong ngày chẳng khác nào một cán bộ trực ban của ngành đường sắt. Vẫn đêm ngày miệt mài ở một góc nhỏ, chắt chiu từng đồng bạc lẻ mà kiên quyết không chuyển nghề bởi mệ yêu cái công việc của mình, thương những con người đêm khuya lạc bước và thích cái tĩnh lặng có chút gì rất buồn của Huế...
Những quán khuya ở Huế là những gì rất riêng, rất lạ mà cũng rất quen đối với ai đã trải qua một đêm không ngủ trên mảnh đất thơ mộng này...
Bên kia,hai mẹ con bà Hoa cũng đang bày gần chục cái nồi chè trên mặt bàn, mùi thịt nướng của quán o Huế được gió bẩy đi khắp nơi. Trong không khí phục vụ ở khu phố ẩm thực đêm dường như đã sẵn sàng...Nằm trên con đường Bạch Đằng gió lộng vừa qua khỏi cây cầu Gia Hội trầm mặc là bạn đã lạc ngay vào khu phố ẩm thực với muôn ánh đèn đủ mầu sắc và muôn vàn mùi vị thơm phức. Khoảng 50 quán san sát nhau với đủ loại món từ loại thường nhất trong đời sống của người dân Huế như bún mắm nêm, cháo lòng, cháo bánh canh đến những loại vương giả hơn như bún bò giò heo, bún thịt nướng, nem lụi đến các loại bánh chỉ có ở đây như bánh bèo, bột lọc, nậm, ít... Có rất nhiều loại để bạn chọn. Riêng chè thôi cũng đủ làm bạn băn khoăn vì không biết nên ăn món nào trước. Từ chè bắp Cồn Hến, chè trôi nước thơm mùi nếp, chè hạt sen và đậu Ngự xưa vua vẫn hay dùng đến chè bột lọc bọc heo quay ngọt béo mà không ngấy, chè đậu ván dẻo sánh, chè đậu xanh, đậu đỏ mềm lự, chè khoai tía...
Càng về khuya quán càng đông và thức luôn cùng với họ không chỉ là những người khách du lịch mà còn có cả những người Huế vốn nổi tiếng lâu nay về thói quen đi ngủ sớm. Những bàn tay thoăn thoắt múc đồ ăn, những tiếng xuýt xoa của khách và những giọng Huế đã làm cho khu phố vốn yên ả trở nên tấp nập... Phố bánh canh đèn dầu Trong lúc đường Đinh Tiên Hoàng lúc nào cũng sáng rực bởi hàng điện đường thì ở phố Hàn Thuyên ngay bên cạnh, những ngọn đèn dầu tù mù được đặt bên cạnh những cái nồi bột mỳ, bột lọc nghi ngút khói. Chẳng hiểu tự bao giờ nó có tên là "phố bánh canh khổ" cái giá 1.000 - 2.000 đồng/tô bánh canh có thể phần nào lý giải tên gọi này.
Khởi đầu là chỉ dăm quán, đến nay con số ấy đã lên đến vài chục. Không một ánh điện, tất cả đều là thứ ánh sáng được hắt ra từ mấy chục ngọn đèn dầu leo lét. Lúc chưa có khu phố đêm Gia Hội, đây được xem là nơi ngủ muộn ở Huế mặc dù từ đầu cho đến cuối phố cũng chỉ bán độc một loại món ăn mà thôi. Bắt đầu từ 15 giờ đến 2 giờ sáng, bất kể trời mưa hay nắng, những bóng người bán và người ăn cứ hắt dài và lặng lẽ trong màn đêm. Không ồn ào, không chật chội, con phố này ngày càng trở nên không thể thiếu đối với những học sinh, sinh viên nghèo, những người lao động bình dân và cả đối với những người yêu cái lãng mạn, cái thơ mộng của cái góc nhỏ thiếu sáng trong kinh thành Huế... Từ "ngõ vắng xôn xao" đến phố thuốc lào
Đó là một con hẻm đối diện với bờ bắc chân cầu Tràng Tiền và là con phố ăn khuya có bề dày tên tuổi. Người Huế đã quen gọi nó là "ngõ vắng xôn xao". Vừa từ xa, bạn đã có thể cảm nhận được trọn vẹn sự "xôn xao" của con hẻm qua những âm thanh loảng xoảng của dao, thớt, của nước đá với bia, của bát đĩa và cả tiếng người mua lẫn người bán. Nằm ngay trung tâm nên nơi đây không thiếu ánh sáng, đèn của cầu Tràng Tiền hắt lại, của hàng điện đường chiếu thẳng tới, của riêng từng quán nên cũng vì vậy mà dường như khách du lịch thích đến đây. Còn người Huế bản tính vốn rất e dè sẽ chọn những quán ít lộ thiên hơn. Với những ai mê cái tiếng rít sồn sột của ống điếu thì dẫu trời mưa dầm lạnh lẽo cũng không thể cản bước chân của họ tìm đến những quán nước nhỏ khiêm tốn ở sân ga. Một cái bàn nhỏ bày ba gói thuốc lá, một hộp kẹo lạc, một bó đóm, mấy cái ly nhỏ... đó là những gì rất giống ở bất kỳ một hàng nước chè nào ở miền Bắc.
Mệ Bảy, người đã hai mươi ba năm bán nước chè ở đây có thể đọc vanh vách cho bạn giờ đến - đi của những chuyến tàu trong ngày chẳng khác nào một cán bộ trực ban của ngành đường sắt. Vẫn đêm ngày miệt mài ở một góc nhỏ, chắt chiu từng đồng bạc lẻ mà kiên quyết không chuyển nghề bởi mệ yêu cái công việc của mình, thương những con người đêm khuya lạc bước và thích cái tĩnh lặng có chút gì rất buồn của Huế...
Những quán khuya ở Huế là những gì rất riêng, rất lạ mà cũng rất quen đối với ai đã trải qua một đêm không ngủ trên mảnh đất thơ mộng này...
Theo Văn hóa nghệ thuật ăn uống
Khởi đầu cho một năm mới với mong muốn phước lộc đến với mọi gia đình, các dân tộc đều có những món ăn cầu may cho dịp đầu năm.
Ngày đầu năm cũng là dịp nghỉ ngơi, vui chơi nên các món ăn thường mang tính lưu trữ. Khi người thân đến nhà chỉ cần năm, mười phút chuẩn bị là có ngay món để nhắm nháp với ly rượu đầu năm.
Cũng như nhiều dân tộc lấy nền văn minh lúa nước làm gốc, người Nhật quan niệm rằng gạo là nguồn gốc của sự thành đạt. Do đó, món bánh dày làm bằng bột gạo nấu với nước xúp cá, nấm và rau cải là bắt buộc phải có. Kế đến, cá được xem là loài vật thông minh giúp con người tài giỏi, năng động hơn trong kinh doanh nên trong mâm thức ăn bao giờ cũng phải có cá. Ngoài ra, trứng cá vàng tượng trưng cho may mắn là món ăn cao cấp chỉ có nhân dịp đầu năm. Chả cá quết với thịt rùa tượng trưng cho phúc thọ. Đặc biệt các món ăn ngày đầu năm được trình bày trong các hộp sơn màu đỏ. Hộp thức ăn càng rực rỡ, nhiều màu sắc, càng hy vọng hưởng được nhiều tốt đẹp trong năm mới.
Đối với ẩm thực Hàn Quốc, trong thực đơn bao giờ cũng có kim chi cùng với khoai, gạo - hai loại lương thực chủ yếu của người dân xứ Hàn. Những món ăn bổ dưỡng như gà, cá, bò hầm cùng sâm rất được ưa chuộng vì ngoài mục đích bồi bổ sức khoẻ, nó còn mang ý nghĩa cầu mong sự an khang thịnh vượng suốt cả năm. Món lẩu hải sản hoặc lẩu thịt bò, các loại rau, củ phải thật đầy đủ để tượng trưng cho sự sung túc. Lẩu thường được dùng chung với cơm hoặc miến.
Nhà hàng Lá Phong, Umi chuyên bán thức ăn Nhật và nhà hàng 7 Ngôi Sao chuyên món ăn Hàn Quốc cùng giới thiệu các món ăn ngày đầu năm. Rượu thưởng thức trong lúc ăn tất nhiên là loại quốc tửu (sake của Nhật và soju của Hàn Quốc).
Ngày đầu năm cũng là dịp nghỉ ngơi, vui chơi nên các món ăn thường mang tính lưu trữ. Khi người thân đến nhà chỉ cần năm, mười phút chuẩn bị là có ngay món để nhắm nháp với ly rượu đầu năm.
Cũng như nhiều dân tộc lấy nền văn minh lúa nước làm gốc, người Nhật quan niệm rằng gạo là nguồn gốc của sự thành đạt. Do đó, món bánh dày làm bằng bột gạo nấu với nước xúp cá, nấm và rau cải là bắt buộc phải có. Kế đến, cá được xem là loài vật thông minh giúp con người tài giỏi, năng động hơn trong kinh doanh nên trong mâm thức ăn bao giờ cũng phải có cá. Ngoài ra, trứng cá vàng tượng trưng cho may mắn là món ăn cao cấp chỉ có nhân dịp đầu năm. Chả cá quết với thịt rùa tượng trưng cho phúc thọ. Đặc biệt các món ăn ngày đầu năm được trình bày trong các hộp sơn màu đỏ. Hộp thức ăn càng rực rỡ, nhiều màu sắc, càng hy vọng hưởng được nhiều tốt đẹp trong năm mới.
Đối với ẩm thực Hàn Quốc, trong thực đơn bao giờ cũng có kim chi cùng với khoai, gạo - hai loại lương thực chủ yếu của người dân xứ Hàn. Những món ăn bổ dưỡng như gà, cá, bò hầm cùng sâm rất được ưa chuộng vì ngoài mục đích bồi bổ sức khoẻ, nó còn mang ý nghĩa cầu mong sự an khang thịnh vượng suốt cả năm. Món lẩu hải sản hoặc lẩu thịt bò, các loại rau, củ phải thật đầy đủ để tượng trưng cho sự sung túc. Lẩu thường được dùng chung với cơm hoặc miến.
Nhà hàng Lá Phong, Umi chuyên bán thức ăn Nhật và nhà hàng 7 Ngôi Sao chuyên món ăn Hàn Quốc cùng giới thiệu các món ăn ngày đầu năm. Rượu thưởng thức trong lúc ăn tất nhiên là loại quốc tửu (sake của Nhật và soju của Hàn Quốc).
Theo Sài Gòn Tiếp Thị
Dân tộc nào cũng có thức ăn truyền thống. Song chưa thấy dân tộc nào có một thức ăn vừa độc đáo, vừa ngon lành, vừa bổ, vừa gắn liền với truyền thuyết dân tộc lâu đời, lại vừa có nhiều ý nghĩa sâu xa về vũ trụ, nhân sinh như bánh chưng, bánh dầy của Việt Nam.
Bánh chưng hình vuông, màu xanh, tượng trưng trái Đất, âm. Bánh dầy hình tròn, màu trắng, tượng trưng Trời, dương, thể hiện triết lý Âm Dương, Dịch, Biện chứng Đông Phương nói chung và triết lý Vuông Tròn của Việt Nam nói riêng.
Bánh chưng âm giành cho Mẹ, bánh dầy dương giành cho Cha. Bánh chưng bánh dầy là thức ăn trang trọng, cao quí nhất để cúng Tổ tiên, thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn, bao la như trời đất của cha mẹ.
Theo truyền thuyết, bánh chưng bánh dầy có từ thời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi phá xong giặc Ân. Vua muốn truyền ngôi cho con, nhân dịp đầu xuân, mới hội các con mà bảo rằng: ”Con nào tìm được thức ngon lành để bày cỗ có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho”.
Các con trai đua nhau kiếm của con vật lạ, hy vọng được làm vua. Người con trai thứ mười tám của Hùng Vương thứ 6 là Lang Lèo (tên chữ gọi là Tiết Liêu), tính tình thuần hậu, chí hiếu, song vì mẹ mất sớm, không có người mẹ chỉ vẽ cho, nên rất lo lắng không biết làm sao, bỗng nằm mơ thấy Thần Đèn bảo: ”Vật trong trời đất không có gì quí bằng gạo, là thức ăn nuôi sống người. Nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng trưng Trời Đất. Lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột để tượng hình cha mẹ sinh thành”.
Lang Lèo (sau có người gọi Lang Liêu) tỉnh dậy, mừng rỡ làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp, đậu xanh thật tốt, thịt lợn (heo) ba rọi dày thật tươi.
Đến hẹn, các lang (con vua) đều đem cỗ tới, đủ cả sơn hào hải vị. Lang Lèo chỉ có bánh Dầy bánh Chưng. Vua lấy làm lạ hỏi, ông đem thần mộng tâu lên. Vua nếm bánh, thấy ngon, lại khen có ý nghĩa hay, bèn truyền ngôi cho Lang Lèo, tức đời vua Hùng Vương thứ 7.
Từ đó, cứ đến Têt nguyên đán hay các đám cưới, đám tang, dân gian bắt chước làm theo, sau thành tục lệ để cúng Tổ tiên, cúng Trời Đất.
Bánh chưng độc đáo, sáng tạo, đậm đà bản sắc dân tộc còn ở những vật liệu và cách gói, cách nấu. Lúa gạo thì tượng trưng cho nền văn hóa lúa nước, nhiệt đới, nóng và ẩm, được chế biến dưới nhiều hình thức khác nhau, mang tính đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam hay Đông Nam Á. Người Trung Hoa ưa chế biến từ bột mì hơn; người Ấn Độ thì ưa chế biến từ kê…
Thịt lợn hay heo được coi là lành nhất, nên các bệnh viện ngày nay thường chỉ sử dụng lọai thịt heo chứ không dùng thịt bò hay thịt gà là thức ăn chính cho bệnh nhân. Người Việt thích thịt luộc hay nấu. Đậu xanh vừa ngon lành vừa bổ dưỡng. Bánh chưng như thế rất nhiều chất, đặc trưng của các món ăn Việt Nam.
Độc đáo hơn nữa, khi nấu trong một thời gian khá dài thường trên 10 tiếng, phải để lửa râm râm, bánh mới ngon. Nấu bằng lò gas, tuy nhanh, nóng quá cũng sẽ không ngon. Vì được gói bằng lá dong, bánh chưng vừa xanh vừa đẹp, thơm hơn lá chuối. Phải gói thật kín, không cho nước vào trong, bánh mới ngon. Lạt phải buộc thật chật, chắc; gói lỏng tay, ăn không ngon. Song nếu chắc quá, bánh cũng không ngon.
Tuy gọi là luộc (người Việt Nam thích luộc, người Trung Quốc thích quay), song vì nước không tiếp xúc với vật liệu được luộc, nên lại là hình thức hấp hay chưng (chưng cách thủy), khiến giữ nguyên được chất ngọt của gạo, thịt, đậu!
Có lẽ vì cách chế biến bằng chưng, nên mới gọi là bánh chưng. Vì thời gian chưng lâu nên các hạt gạo mềm nhừ quyện lấy nhau, khác hẳn với xôi khi người ta “đồ”, khi hạt gạo nhừ quyện vào nhau như thế, người ta gọi bánh chưng “rền”. Vì nấu lâu như thế, các vật liệu như thịt (phải là thịt vừa nạc vừa mỡ mới ngon; chỉ thịt nạc, nhân bánh sẽ khô), gạo, đậu đều nhừ. Cũng vì thời gian chưng lâu, khiến các chất như thịt, gạo đậu nhừ, có đủ thời gian chan hòa, ngấm vào nhau, trở thành hương vị tổng hợp độc đáo, cũng mang một triết lý sống chan hòa, hòa đồng của dân tộc ta.
Cách chế biến như thế rất độc đáo, công phu. Bánh chưng nhất là bánh dầy có thể để lâu được. Khi ăn bánh chưng, người ta có thể chấm với các lọai mật hay với nước mắm thật ngon, giàu chất đạm; cũng có thể ăn thêm với củ hành muối, củ cải dầm hay dưa món… Dân Bắc Ninh xưa thích nấu bánh chưng, nhân vừa thịt vừa đường!
Bánh chưng, bánh dầy quả thật là một món ăn độc đáo có một không hai của dân tộc. Bánh chưng là một trong những bằng chứng cụ thể chứng tỏ văn hóa ẩm thực Việt Nam có nhiều tiềm năng khiến Việt Nam trở thành một cường quốc về văn hóa ẩm thực!
Bánh chưng hình vuông, màu xanh, tượng trưng trái Đất, âm. Bánh dầy hình tròn, màu trắng, tượng trưng Trời, dương, thể hiện triết lý Âm Dương, Dịch, Biện chứng Đông Phương nói chung và triết lý Vuông Tròn của Việt Nam nói riêng.
Bánh chưng âm giành cho Mẹ, bánh dầy dương giành cho Cha. Bánh chưng bánh dầy là thức ăn trang trọng, cao quí nhất để cúng Tổ tiên, thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn, bao la như trời đất của cha mẹ.
Theo truyền thuyết, bánh chưng bánh dầy có từ thời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi phá xong giặc Ân. Vua muốn truyền ngôi cho con, nhân dịp đầu xuân, mới hội các con mà bảo rằng: ”Con nào tìm được thức ngon lành để bày cỗ có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho”.
Các con trai đua nhau kiếm của con vật lạ, hy vọng được làm vua. Người con trai thứ mười tám của Hùng Vương thứ 6 là Lang Lèo (tên chữ gọi là Tiết Liêu), tính tình thuần hậu, chí hiếu, song vì mẹ mất sớm, không có người mẹ chỉ vẽ cho, nên rất lo lắng không biết làm sao, bỗng nằm mơ thấy Thần Đèn bảo: ”Vật trong trời đất không có gì quí bằng gạo, là thức ăn nuôi sống người. Nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng trưng Trời Đất. Lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột để tượng hình cha mẹ sinh thành”.
Lang Lèo (sau có người gọi Lang Liêu) tỉnh dậy, mừng rỡ làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp, đậu xanh thật tốt, thịt lợn (heo) ba rọi dày thật tươi.
Đến hẹn, các lang (con vua) đều đem cỗ tới, đủ cả sơn hào hải vị. Lang Lèo chỉ có bánh Dầy bánh Chưng. Vua lấy làm lạ hỏi, ông đem thần mộng tâu lên. Vua nếm bánh, thấy ngon, lại khen có ý nghĩa hay, bèn truyền ngôi cho Lang Lèo, tức đời vua Hùng Vương thứ 7.
Từ đó, cứ đến Têt nguyên đán hay các đám cưới, đám tang, dân gian bắt chước làm theo, sau thành tục lệ để cúng Tổ tiên, cúng Trời Đất.
Bánh chưng độc đáo, sáng tạo, đậm đà bản sắc dân tộc còn ở những vật liệu và cách gói, cách nấu. Lúa gạo thì tượng trưng cho nền văn hóa lúa nước, nhiệt đới, nóng và ẩm, được chế biến dưới nhiều hình thức khác nhau, mang tính đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam hay Đông Nam Á. Người Trung Hoa ưa chế biến từ bột mì hơn; người Ấn Độ thì ưa chế biến từ kê…
Thịt lợn hay heo được coi là lành nhất, nên các bệnh viện ngày nay thường chỉ sử dụng lọai thịt heo chứ không dùng thịt bò hay thịt gà là thức ăn chính cho bệnh nhân. Người Việt thích thịt luộc hay nấu. Đậu xanh vừa ngon lành vừa bổ dưỡng. Bánh chưng như thế rất nhiều chất, đặc trưng của các món ăn Việt Nam.
Độc đáo hơn nữa, khi nấu trong một thời gian khá dài thường trên 10 tiếng, phải để lửa râm râm, bánh mới ngon. Nấu bằng lò gas, tuy nhanh, nóng quá cũng sẽ không ngon. Vì được gói bằng lá dong, bánh chưng vừa xanh vừa đẹp, thơm hơn lá chuối. Phải gói thật kín, không cho nước vào trong, bánh mới ngon. Lạt phải buộc thật chật, chắc; gói lỏng tay, ăn không ngon. Song nếu chắc quá, bánh cũng không ngon.
Tuy gọi là luộc (người Việt Nam thích luộc, người Trung Quốc thích quay), song vì nước không tiếp xúc với vật liệu được luộc, nên lại là hình thức hấp hay chưng (chưng cách thủy), khiến giữ nguyên được chất ngọt của gạo, thịt, đậu!
Có lẽ vì cách chế biến bằng chưng, nên mới gọi là bánh chưng. Vì thời gian chưng lâu nên các hạt gạo mềm nhừ quyện lấy nhau, khác hẳn với xôi khi người ta “đồ”, khi hạt gạo nhừ quyện vào nhau như thế, người ta gọi bánh chưng “rền”. Vì nấu lâu như thế, các vật liệu như thịt (phải là thịt vừa nạc vừa mỡ mới ngon; chỉ thịt nạc, nhân bánh sẽ khô), gạo, đậu đều nhừ. Cũng vì thời gian chưng lâu, khiến các chất như thịt, gạo đậu nhừ, có đủ thời gian chan hòa, ngấm vào nhau, trở thành hương vị tổng hợp độc đáo, cũng mang một triết lý sống chan hòa, hòa đồng của dân tộc ta.
Cách chế biến như thế rất độc đáo, công phu. Bánh chưng nhất là bánh dầy có thể để lâu được. Khi ăn bánh chưng, người ta có thể chấm với các lọai mật hay với nước mắm thật ngon, giàu chất đạm; cũng có thể ăn thêm với củ hành muối, củ cải dầm hay dưa món… Dân Bắc Ninh xưa thích nấu bánh chưng, nhân vừa thịt vừa đường!
Bánh chưng, bánh dầy quả thật là một món ăn độc đáo có một không hai của dân tộc. Bánh chưng là một trong những bằng chứng cụ thể chứng tỏ văn hóa ẩm thực Việt Nam có nhiều tiềm năng khiến Việt Nam trở thành một cường quốc về văn hóa ẩm thực!
Theo Tuổi trẻ
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







