Bài viết mới đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang phục truyền thống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang phục truyền thống. Hiển thị tất cả bài đăng

21 thg 12, 2010

Nghệ thuật trang trí hoa văn trên thổ cẩm của người Bana

21 thg 12, 2010 - by Ana · - 0 Comments

Vẻ rực rỡ của hoa văn trên trang phục Bana
Nghệ thuật trang trí của người Ba Na rất phong phú và độc đáo, thể hiện trên các loại hoa văn, hoạ tiết sống động trên trang phục, đồ đan.


Hoạ tiết thổ cẩm được sử dụng nhiều ở thổ cẩm (áo, váy, chăn, đồ đan). Người Ba Na thường sử dụng các màu: đen, đỏ, trắng, tạo ấn tượng mạnh mẽ. Hoạ tiết đối xứng phản ánh quan niệm về vũ trụ, lý âm dương, trời đất lấy thiên nhiên làm hình mẫu, thổ cẩm của người Ba Na không khác nào cảnh thiên nhiên thu nhỏ. Đó là cách điệu của hình học, cảnh núi rừng… mỗi người con gái Ba Na đều có nghệ thuật trang trí độc đáo thể hiện qua nghề dệt thổ cẩm truyền thống.
Hoa văn trên thổ cẩm làm màu sắc sặc sỡ, chủ yếu là chạy dọc theo chiều tấm vải, màu đen là màu chủ đạo gây ấn tượng mạnh mẽ về phong cách, đây chính là những hoa văn phản ánh đường nét văn hóa truyền thống và đời sống sinh hoạt hàng ngày của người Ba Na. Thổ cẩm tươi sáng, rực rỡ bay bổng như ước mơ, khát vọng. Mỗi màu lại có tiếng nói riêng, màu đen tượng trưng cho đất rừng trù phú, màu đỏ của khát vọng và tình yêu. Khăn đội đầu của thiếu nữ mang trong mình một giai thoại về tình yêu, lòng thuỷ chung, ngoài ra chiếc khăn đội đầu làm cho duyên thêm các cô gái, những hàng cúc màu trắng, chuỗi cườm tua tủa, cúc bạc lung linh bao hàm sự ước mơ, hạnh phúc luôn đầy đủ.

Trải qua năm tháng cùng với sự giao lưu phát triển nghệ thuật trang trí của người Ba Na vẫn luôn được giữ gìn và phát huy, góp phần làm nên một bản sắc văn hóa đặc thù. Ngày nay đến với buôn làng của người Ba Na vẫn còn in đậm nghệ thuật trang trí thể hiện qua trang phục, đồ đan. Các sản phẩm được làm từ thổ cẩm đã trở thành hàng hóa thời mở cửa và được nhiều người ưa thích.

Trang phục dân tộc Bana

- by Ana · - 0 Comments

  Ba Na mặc áo chui đầu, cổ xẻ. Đây là loại áo cộc tay, thân áo có đường trang trí sọc đỏ chạy ngang, gấu áo màu trắng. Họ thường mang khố hình chữ T theo lối quấn ngang dưới bụng, luồn qua háng rồi che một phần mông. Ngày rét, họ mang theo tấm choàng. Ngày trước nam giới búi tóc giữa đỉnh đầu hoặc để xõa. Nếu có mang khăn thì thường chít theo kiểu đầu rìu. Trong dịp lễ bỏ mả, họ thường búi tóc sau gáy và cắm một lông chim công. Nam cũng thường mang vòng tay bằng đồng. 

 
Phụ nữ Ba Na ưa để tóc ngang vai, có khi búi và cài lược hoặc lông chim, hoặc trâm bằng đồng, thiếc. Có nhóm không chít khăn mà chỉ quấn bằng chiếc dây vải hay vòng cườm. Có nhóm như ở An Khê, Mang Giang hoặc một số nơi khác họ chít khăn trùm kín đầu, khăn chàm quấn gọn trên đầu. Trước đây, họ đội nón hình vuông hoặc tròn trên có thoa sáp ong để khỏi ngấm nước, đôi khi có áo tơi vừa mặc vừa che đầu. Họ thường đeo chuỗi hạt cườm ở cổ và vòng tay bằng đồng xoắn ốc dài từ cổ đến khủy tay (theo kiểu hình nón cụt). Nhẫn được dùng phổ biến và thường được đeo ở hai, ba ngón tay. Tục xả tai phổ biến vừa mang ý nghĩa trang sức vừa mang ý nghĩa tín ngưỡng của cộng đồng. Hoa tai có thể là kim loại, có thể là tre, gỗ. Tục cà răng mang theo quan niệm của cộng đồng hơn là trang sức. Phụ nữ Ba Na mặc áo chủ yếu là loại chui đầu, ngắn thân và váy. Áo có thể cộc tay hay dài tay. Váy là loại váy hở, thường là ngắn hơn váy của người Ê Đê, ngày nay thì dài như nhau. Quanh bụng còn đeo những vòng đồng và cài tẩu hút thọc vào đó.
Về tạo hình áo váy, người Ba Na không có gì khác biệt mấy so với dân tộc Gia-rai hoặc Ê-đê. Tuy nhiên, nó khác nhau ở phong cách mỹ thuật trang trí hoa văn, bố cục trên áo váy của người Ba Na. Theo nguyên tắc bố cục dải băng theo chiều ngang thân người, dân tộc Ba Na dành phần chính ở giữa thân áo và váy với diện tích hơn một nửa áo, váy cũng như hai ống tay để trang trí hoa văn (chủ yếu là hoa văn với các màu trắng đỏ), nền chàm còn lại của áo váy không đáng kể so với diện tích hoa văn. Thắt lưng váy được dệt thêu hoa văn và tua vải hai đầu, được thắt và buông thõng dài hai đầu sang hai bên hông.

11 thg 11, 2010

Cách trang phục của người Bình Định xưa

11 thg 11, 2010 - by Ana · - 0 Comments

Thuở xưa, người Bình Định thường có quan niệm "ăn lấy chắc, mặc lấy bền", nên trong cách ăn mặc thường ngày cũng khá đơn giản, chỉ dùng vải ta, vải thao đũi may áo cho phù hợp với cuộc sống sinh hoạt và lao động trên đồng ruộng.
Người Bình Định xưa thường mặc áo bà ba, cổ giữa, cổ kiềng, có hai túi ở vạt trước phía dưới và một túi nhỏ ở ngực trái. Trước đó còn có áo vạt hò, nút gài bên phải nhưng chỉ dài bằng áo bà ba.
Lúc ra đồng cày cấy, đàn ông chỉ mặc áo bà ba và quần đùi cho tiện, chứ không mặc quần dài. Áo người đàn ông thường rách ở vai và lưng vì phải khuân vác nhiều. Người ta vá phần ấy bằng một miếng vải to, có khi không trùng màu, gọi là vá quàng. May vá là công việc của phụ nữ, nhiều người có thể nhận ra mũi kim đường chỉ của riêng mình. Vì thế mới có câu:
Áo rách vai chồng ai không biết
Áo vá quàng đó thiệt chồng tôi
Người đàn bà đi làm cũng mặc áo dài; áo cụt chỉ mặc trong nhà. Quần thì dùng quần lưng vặn, với hai ngoai giắt trước bụng, trông lỏng lẻo nhưng chắc chắn vô cùng. Đàn bà con gái đều mặc yếm, phụ nữ lớn tuổi thường bịt khăn xéo, vừa để che đầu tránh nắng, tránh rét vừa có cái để túm đựng, làm tay nải khi cần. Đàn ông thì bịt khăn ngang, khi nói chuyện với kẻ trên trước thì thường tháo khăn nắm ở tay hay vắt ở vai. Các cụ già thường chít khăn đầu riều bằng lụa đỏ xanh.
Đàn bà con gái đều mặc yếm. Họ mặc yếm thay cho áo lót như ngày nay nhưng không mấy người mặc yếm vải. Nếu không mặc được yếm lụa, yếm hàng, mà phải dùng vải thì cũng lựa thứ vải thật mịn thật tốt mà may. Yếm thường được may hai lớp, bên trong có túi để đựng tiền. Cổ yếm thì may rất công phu, vì thường để ló ra nơi cổ áo không gài nút. Mặc yếm, tiếng là để che ngực cho ấm nhưng sự thật là để giữ cho ngực thêm đẹp.
Đàn ông thì mặc quần buộc dây lưng ống rộng. Dây lưng thường bằng đũi, bằng thao hoặc sang hơn thì bằng lụa, kiều cầu dài 3-4 thước quấn quanh bụng. Người bình thường dùng lưng rút hoặc lưng vận, lưng rút buộc chắc chắn hơn; còn lưng vận là lưng không may gập xuống, không có dây buộc mà là một phần dây vải lớn bản, khi mặc thắt thành nút trước rốn để giữ. Loại lưng này dễ sút nếu bị giật mạnh.
Có câu chuyện vui kể về anh nhà nghèo cưới được cô hàng bán mắm dạo nhờ chiếc dây lưng loại này. Sau nhiều lần chọc ghẹo, hát hò không được, chàng nông dân nghèo được bạn bè bày cách dắt "lận" tiền trong lưng quần để đi mua nước mắm. Hôm ấy, cô hàng bán mắm dạo gánh đôi bầu đến đầu chái nhà thì anh nông dân chạy ra mua rất nhiều thứ: nào mắm ruốc, mắm cơm rồi cả chai nước mắm nhỉ, cầm cả hai tay mà không hết. Anh lụi cụi gom hết trong hai tay toan đi, nhưng sực nhớ chưa tính tiền nên quay lại nhờ cô hàng nước mắm lấy tiền đã dắt ở lưng quần. Cô gái tưởng thật mới sờ tay vào, vừa rút tiền ra thì dây lưng tuột mất, bày tất cả ra ngoài. Nhờ vậy mà hai người nên vợ nên chồng.
Quần đàn ông thường màu trắng, còn áo thì lại nhuộm màu nâu, đen… Đàn bà dùng áo dài đen, quần đen. Quần trắng chỉ mặc trong đám tang hoặc lúc có hội hè đình đám.
Đàn ông những lúc đi hội hè, đình đám thì mặc áo dài. Áo dài thường may vải tám, vải ú màu đen, nút trắng hoặc đen, cổ có bâu đứng, gài nút bên phải. Áo dài mặc với quần trắng, đi guốc gỗ, đầu đội khăn đóng, tay che dù. "Nếu đi guốc thì dùng guốc quai dọc, đẽo bằng gốc tre khô, bằng gỗ lồng mứt hoặc bằng vông. Guốc quai ngang mãi thời Pháp thuộc mới có song cũng ít thông dụng ở thôn quê.
Ở thôn quê, để đi củi đi đuốc khỏi đạp gai, người nông dân thường dùng dép bằng da trâu phơi khô. Người sang thường dùng dép da lụa, nhất là đàn bà. Dép da thường kết quai dọc, mũi cong. Về sau có thêm thứ dép bướm bằng cườm xanh cườm đỏ. Các nhà đại phú và các nhà làm quan mới sắm nổi giày và mới được phép mang giày. Giày thường là giày dừa, may bằng nỉ hay nhung, trơn hay thêu kim tuyến hoặc kết cườm.
Thời Pháp thuộc có thêm thứ giày da, tục gọi là giày hạ hoặc giày cá lóc. Thứ giày này "dễ mang" hơn giày dừa, song không phải ai cũng mang được. Phải là người có địa vị kha khá trong làng, trong tổng mới được mang.
Ấy là nói những người trưởng giả, còn dân cày thì không có tiền sắm, lúc cần phải đi mượn áo dài, khăn đóng, còn guốc dép thì không quen đi nên vẫn cứ đi chân không cho chắc. Với lại đường làng thuở xưa toàn đất mấp mô, trơn trượt, người ta thường kẹp nách đôi dép chạy lúp xúp cho nhanh. Khi đến nơi mới rửa chân, xỏ dép vào cho đẹp, cho cung kính, trang trọng.
Người Bình Định có dáng đi nhanh (chạy lúp xúp) chứ ít khi đi khoan thai chậm rãi, vì hồi ấy toàn đi bộ, nhà cách xa nhà nên phải như vậy. Ngay cả khi mang vác nặng như gánh hàng xén, gánh lúa… cũng đi chân không, chạy lúp xúp, trẻ con theo không kịp.
Các chức sắc và địa chủ khá giả thường mặc áo dài ba tít, áo lương, áo lãnh… người có học thức mặc áo cặp, bên trong là áo dài trắng, bên ngoài áo dài lương, lãnh, may bằng vải thưa, đi giày hạ.
- Gặp người quần lãnh áo lương
Ngày dài tưởng nhớ, đêm trường chiêm bao.
- Chàng ràng vì áo cụt nu,
Vì dây lưng đỏ, vì dù cánh dơi.
Theo nhà thơ Quách Tấn, người Bình Định đều "rất quí trọng đầu tóc. Họ coi đầu tóc là nơi thờ cha mẹ, nên một khi đã để tóc rồi, bất kỳ trai hay gái, trẻ hay già, không ai dám tự tiện cạo hay hớt bớt.
Năm Mậu Thân (1908), trong khi phát động phong trào "khất sưu", các nhà lãnh đạo hô hào bên nam hãy cắt bỏ "cục ngu trên đầu", nghĩa là hớt tóc ngắn, bỏ tục bới tóc. Chỉ có một số hưởng ứng. Để khỏi bị bức bách, nhiều người phải trốn tránh trên lá mái hoặc trong núi trong rừng. Sau khi dập tắt được phong trào, bọn Pháp lùng bắt người, hễ thấy người nào tóc ngắn là bắt, bất kể ai… Thịt rơi máu chảy! Khủng khiếp gieo khắp nơi nơi! Nhưng từ ấy về sau, đồng bào Bình Định bắt đầu hớt tóc ngắn, trước ít sau đông dần.
Khi còn để tóc, đàn ông cũng như đàn bà đều ưa xức dầu dừa cho láng tóc. Những người sang, có tiền thường dùng dầu dừa có mùi thơm, hoặc dầu ngoại hóa như Song Muội, Cô Ba…. Vì thế ca dao Bình Định mới có câu: 
Mài dừa đạp cám cho nhanh
Lấy dầu mà chải tóc anh tóc nàng.
Mài dừa dưới ánh trăng vàng
Lấy dầu mà chải tóc nàng tóc anh.
Dù đã có khăn đóng, khăn xéo, khăn đầu rìu để che nắng, nhưng người Bình Định, dù đàn ông hay đàn bà, đi đâu cũng không quên đội nón, bất kể trời nắng hay mưa, râm hay mát. Nón Gò Găng có hai loại: loại nón ngựa chụp bạc, chụp đồi mồi dành cho kẻ cao sang quyền quí; loại nón lá thường dành cho hạng bậc trung trở xuống. 

Cách ăn mặc của người Bình Định xưa khá giản dị. Có lẽ do điều kiện kinh tế và sự hội nhập hàng hóa chưa nhiều. Càng về sau, người Bình Định có cách phục sức thay đổi nhiều hơn. Các loại áo cụt, vạt hò, áo dài, quần lãnh, rồi guốc mộc, khăn đóng… càng ngày càng mất dần, chỉ xuất hiện lúc kỵ, lễ cúng.
Đàn ông đi đâu xa thì mặc áo sơ mi, quần âu; quanh quẩn trong làng thì mặc pyjama thay cho bộ bà ba xưa. Giày dép thì đủ loại với nhiều chất liệu, mẫu mã tiện lợi, phù hợp cho mọi đối tượng.
Còn phụ nữ thì mặc áo dài, tay rarlan, áo dài xẻ nách, áo cổ bâu, cổ đứng… với nhiều màu khá nền nã. Quần thì có quần dây thun đen hoặc trắng mặc với áo dài trong dịp lễ, tết. Còn ngày thường thì ai cũng vận sơ mi, quần âu hai ống, mang giày như các vùng khác trong tỉnh, trong nước. Càng về sau, cách ăn mặc càng thống nhất chung, khó phân biệt kẻ thị người quê như xưa nữa.
Theo: maxreading

Bí ẩn trang điểm cung đình Huế

- by Ana · - 0 Comments


Các nghi thức trang điểm theo lối cung đình Huế vẫn luôn là điều bí mật với nhiều người. Bí ẩn từ cách pha chế mỹ phẩm đến cung cách vẽ mặt sao cho các mệ trông giống như các bức tượng tiên thánh. Một phần nghệ thuật pha chế này đã vượt được ra ngoài bức tường hoàng cung và "ở lại" trong dân gian. Những phần khác chỉ còn là huyền thoại, cùng với sự ra đi của những bà hoàng, những công chúa, phi tần cuối cùng của vương triều nhà Nguyễn...
 
Nghệ thuật trang điểm mang hương sắc từ thiên nhiên:
Phấn nụ là thứ mỹ phẩm của nội cung nhà Nguyễn còn "sống" đến ngày nay. Nói "sống" là vì nó đã được mệ Sen (Công chúa Lương Linh, con Vua Thành Thái) đưa ra khỏi giới hạn của cung đình, đến với dân gian. Sau cách mạng tháng 8, mệ đã tổ chức sản xuất hàng loạt để phục vụ dân chúng. Đến tận bây giờ, phấn nụ vẫn được phụ nữ Huế ưa thích vì nó không chỉ là một chất dùng để trang điểm, mà còn có tác dụng dưỡng da tuyệt vời, lại rất an toàn, không bao giờ gây dị ứng.
Gọi phấn nụ vì mỗi viên phấn có hình dáng như một nụ hoa xinh xắn. Để có một lượt phấn nụ phải mất 8 ngày cho việc pha chế. Nguyên liệu chính để chế phấn nụ là chất cao lanh thượng hạng mua từ Trung Quốc về. Cao lanh nguyên chất có màu hơi phớt hồng, được nướng chín trên lửa than không khói cho đến khi trở thành trắng tuyết. Chờ đến khi nguội, dùng dao nạo thành bột rồi hoà với nước mưa lắng trong, hoặc nước giếng sâu trong hậu cung, rồi quấy kỹ; cứ một phần bột thì 5 phần nước. Cứ mỗi sáng, khi mặt trời chưa lên, chỗ nước cặn được gạn bỏ, phần bột còn lại tiếp tục được quấy nước rồi lọc qua hai, ba lớp vải sa nõn xếp lên nhau để bỏ đi phần cặn thô...Qua 8 ngày, chỗ bột còn lại sẽ nhẹ tênh và mịn như nhung. Sau lần gạn nước cuối cùng, người ta đặt nhiều lớp giấy thấm hay giấy bản lên khay bạc, phủ lên trên cùng một lớp vải dễ thấm nước rồi lấy thìa múc bột đổ thành nụ hình xoắn ốc lên vải. Khi nước đã kiệt, phấn được đưa vào phơi ở những chỗ thoáng mát, sau đó được cất vào các hộp kín để ướp cùng hoa nhài, hoa bưởi hoặc hoa sứ trắng hái lúc mờ sáng. Mất khoảng mươi ngày để ướp hương hoa, nụ phấn sẽ thơm ngát. Phấn nụ hồng cũng được pha chế theo cách trên, chỉ có khác là phẩm màu cánh sen, hoặc nước cánh hoa hồng đỏ chưng kín hơi được trộn vào lần gạn nước cuối cùng.
Để chế tạo sáp môi, người ta dùng sáp ong loại tốt nấu chảy rồi quấy đều. Mỗi lạng sáp ong trộn thêm ba giọt dầu oliu để sáp mềm mịn. Đổ sáp lỏng lên mấy lớp sa để lọc bỏ cặn thô, rồi lại đun và lọc tiếp ba, bốn lần. Phẩm màu cánh sen được trộn đều vào sáp sau lần đun cuối cùng. Sau đó, sáp được cất giữ trong những hộp nhỏ bằng vàng có nắp thật kín.
Làm bột phấn tô lông mày cũng kỳ công không kém. Người xưa đốt gỗ cây điên điển, rồi thổi thật nhẹ thứ bụi tro đó sang một chiếc mâm bạc. Chỉ những hạt muội nào nhẹ, mịn, bay sang bám được trên bề mặt mâm mới được giữ lại để làm chì kẻ mắt. Bột được cất kín hơi trong hộp sứ nhỏ, nút miệng bằng vải điều đỏ để tránh gió làm vón cục và ánh sáng làm phai màu đen nhung của muội. Phụ nữ trong cung vẽ chân mày bằng cây điên điển phơi khô, giã giập mịn phần đầu rồi cắt xéo vạt. Vẽ vài lần "bút" toè đầu thì cắt lui xuống tiếp, khi nào ngắn quá thì bỏ. Có lẽ vì mất công vậy nên sau này các bà thay bút điên điển bằng cọ lông viết chữ Nho, nét cũng thanh mềm không kém.
Làm tốt - lễ đại kị:
Nghệ nhân Trịnh Bách - người đã dày công tìm hiểu về trang phục và những cổ tục trong nội cung - là một trong số rất ít những nhà nghiên cứu may mắn được chứng kiến cảnh làm tốt (từ người Huế xưa gọi việc trang điểm) của thành viên hoàng thất dành riêng cho những dịp đại kỵ. Bà Điềm Tần, thứ thất của vua Khải Định, người duy nhất trong các công nương, phi tần... thời cuối Nguyễn còn giữ cung cách trang điểm theo lối cổ đã làm cho nghệ nhân xem.
Thoạt tiên, bà dùng phấn nụ pha nước sền sệt đánh mặt trắng hoàn toàn, nhưng từ cằm xuống cổ lại để da trần. Trên nền phấn trắng, đôi mắt không trang điểm nổi lên một cách siêu thực. Hai gò má được bôi một khoảng tròn bằng phấn hồng. Đôi môi cũng được đánh che hết bằng phấn trắng, sau đó bà dùng ngón tay tô một điểm sáp son vào chính giữa môi dưới. Lông mày sau đó được tô lại bằng cọ lông. Lối trang điểm này, cộng với phong cách "lưng ngay, mặt nhìn thẳng, giữ vẻ trang nghiêm theo đúng phép tắc cung đình" khiến cho người được trang điểm trông uy nghi như các tượng tiên, thánh; nét mặt gần như vô cảm cố ý.
 Đó là nghi lễ chỉ dành trong lễ đại kỵ, ngày thường phụ nữ nội cung cũng chỉ điểm trang như phụ nữ ngày nay. Có khác chăng là cả phấn nụ lẫn sáp môi đều được đánh bằng đầu ngón tay chứ không dùng chổi như mỹ phẩm hiện đại...
Theo: maxreading

3 thg 11, 2010

Tóc thề xứ Huế

3 thg 11, 2010 - by Ana · - 0 Comments


 

Hình ảnh mái tóc thề của các cô gái Huế luôn là biểu tượng của một xứ Huế mộng mơ. Nó như biểu tượng "Sống", không thể và không bao giờ thiếu để cùng "làm nên" tất cả những gì được mệnh danh Thơ và Mộng ở nơi đây. Nếu Huế chỉ có những cái đẹp hoành tráng, mang tầm cao và uy linh lịch sử, chỉ có những cái đẹp của cảnh quan và thiên nhiên đầy lặng lẽ chung quanh..., có thể khi ấy, Huế sẽ chỉ là nơi đến cho những kẻ hành hương tưởng niệm, kẽ vãn cảnh nhàn du. Lúc ấy, biểu tượng "gợi cảm" nhất, sinh động nhất gắn liền giữa con người và bản sắc nơi đây trong thực tại sẽ là đâu? Cứ vẫn còn thơ, nhưng rồi mộng ở nơi nào? Và chính nét đẹp nữ giới xứ Huế với tà áo tím và mái tóc thề đã góp phần tạo nên cái thơ, cái mộng, cái sinh động của Huế.
Tóc thề nói chung: Có nguồn gốc từ văn hoá Trung Hoa. Tóc của người thiếu nữ ngày xưa, đến tuổi "Cập Kê" (được cài trâm) chừng mười lăm, mười sáu "trăng tròn". Khi người con gái được quyền "chính thức trang điểm" cũng là lúc có quyền có tình yêu. Tình yêu được xã hội và gia đình công nhận. Trong tình yêu họ thường chọn tóc làm tín vật trao nhau, nhắc nhở nhau đừng quên đi đối tượng tình yêu. Khi người đẹp Thuý Kiều cắt tóc, thề nguyện cùng Kim Trọng:
...Tiên thề cùng thảo một trang
Tóc mây một món, dao vàng chia hai...
Cũng có nghĩa, khi chàng Kim nhận lấy lọn tóc nhỏ kia là đã nhận luôn "quả tim" muốn gửi gắm một đời. Kiều, lấy tóc của thân mình trao gởi, tự coi như đã trao thân gửi phận cho người mình yêu dấu. Vì thế, tóc ấy cộng với Lời Thề Thốt cùng nhau mới nên nghĩa Tóc thề.
Tóc là một phần thân thế, là tượng trưng của tổ tông và huyết tộc được lưu truyền, là sinh thành do tác hợp mẹ cha, là mùi hương sự mềm dịu, một sắc màu gợi cảm "hiển nhiên" và rất "Thực" của con người. Nó không phải là đồ trang sức, mượn vào sức hào phóng giả tạo ở bên ngoài hay giá trị của bạc vàng châu báu. Bởi thế, không gì sánh được với tín vật Nhân - Thân từ biểu tượng Tóc thề: Trong văn hoá lịch sử Trung Hoa, đã có lúc "giá -trị - tóc" bị lu mờ và khủng hoảng. Triều đại Mãn Thanh phủ nhận mái tóc trong luật bắt người đàn ông người Hán cạo đầu và chỉ để "đuôi sam". Rất khác với các triều đại trước, như Triều Minh (ở trong bối cảnh Truyện Kiều của Nguyễn Du) đều coi trọng giá - trị - tóc như nhau. Điều khác biệt gần như hiển nhiên là tóc thiếu nữ Trung Hoa từ tuổi "Cập Kê" là đã phải cài trâm, quấn tóc.  Với thiếu phụ Huế, tóc được "Bối" lên (kiểu bối Việt Nam không phải cần trâm). Tóc thiếu nữ Huế không phải cài trâm nên không quấn lên cao mà có thể "Kẹp" nhưng đây không phải Trâm. Hai công dụng khác nhau rõ rệt. Vì thế, tóc thiếu nữ Huế buông dài và xoã kín bờ vai. Kiểu tóc buông tự do xa lạ với tóc cài trâm thiếu nữ Trung Hoa.
Tóc thề xứ Huế: Trong dân gian, con gái để chỉ đến người nữ chưa chồng chưa con và nhất là còn trong tuổi trẻ đầy thanh xuân, sức sống. Người Huế bảo, "Còn Con Gái" đồng nghĩa với những điều vừa nói ấy. Tóc "con gái" Huế thông thường là buông xoã tự do. Có thể "kẹp" nhưng không ảnh hưởng đến độ dài và cả độ cao của mái tóc. Tóc phủ xuống bờ vai, xuống lưng người, xuống bờ mông và nhiều khi hơn thế, có những người còn rũ xuống gót chân.
Mái tóc thề xứ Huế còn là để biểu lộ nét "nguyên trinh" chưa phải "giao thề" với ai cả. Hoặc đã có người thương càng nói lên sự chung thủy của mình. Không có "ý chi" với ai khác nữa. Có nghĩa, không việc gì phải che dấu khi nói lên sự trinh nguyên hoặc tính chung thuỷ nơi một người con gái. Vì thế, dù chưa yêu hoặc đã có người thương - miễn sao chưa xây dựng gia đình - người con gái xứ Huế vẫn luôn yêu mái tóc thề buông xõa bờ vai. Biểu tượng và cách nói thầm lặng ấy đẹp tuyệt vời như một bản sắc Tình yêu trong sáng, không nói nhưng "đã nói biết bao lời"...
Theo: maxreading.com

Khăn chít, khăn vành đằm thắm xứ Huế

- by Ana · - 0 Comments

Ngày xưa, trong sinh hoạt hàng ngày hoặc trong các lễ hội nhỏ, những người phụ nữ trong cung vua thường dùng khăn chít.

Chiếc khăn chít được làm bằng vải lụa hoặc nhiễu – loại vải chịu được độ chà xát mà không rủ. Một dải vải dài khoảng 50 cm bao bọc mái tóc rồi chít tròn vòng quanh đầu, gọn ghẽ mà không thiếu nét xinh xắn, đằm thắm. Khăn chít màu vàng dành cho hoàng hậu, khăn màu hỏa hoàng dành cho các phu nhân có cấp bậc cao, khăn màu xanh dương dành cho các bà phi, các thị nữ dùng khăn màu lục.
Trong những dịp đại lễ, lễ cưới ở trong cung, chiếc khăn chít biến tấu thành khăn vành dây với cái cốt lõi bên trong là khăn chít, một dải vải màu xanh dương được xếp thành một vành tròn ở bên ngoài. Khăn vành chỉ để cho các vị hoàng thái hậu, hoàng hậu và các vị phu nhân dùng.

Dần dà về sau chiếc khăn chít, khăn vành đã đến với đời thường, là những vật dùng trong các dịp lễ cưới, lễ hội dân gian. Vẫn những hình dạng và màu sắc ấy góp phần làm tôn lên vẻ đẹp khuôn mặt của người phụ nữ. 
Theo: maxreading.com

26 thg 10, 2010

Áo dài, nón bài thơ - nét duyên thầm xứ Huế

26 thg 10, 2010 - by Ana · - 0 Comments


Ở xứ nắng lắm, mưa nhiều, người buôn thúng bán bưng cũng vương nét đoan trang. Những tấm áo dài bạc màu vì một nắng hai sương, nối vạt, nối tay vì thiếu vải hay may bằng nhung điều quyền quý, người phụ nữ ở đây vẫn dịu dàng đến nhẹ nhàng như mây, hiền như lúa, e ấp, thơm như e ấp, nhẹ như mây, hiền như lúa, thơm như sen mùa hạ trong hồ Nội đô.

Áo dài Huế thời trước 1945 không chỉ khác với áo dài Hà Nội, Sài Gòn, mà tự thân nó còn đa dạng hoá cho phù hợp với vị trí xã hội, đặc thù lao động của nhiều tầng lớp phụ nữ Huế. Chiếc áo dài Huế cách điệu làm tôn vẻ đẹp của Nam Phương Hoàng hậu trong Tử Cấm Thành. Chiếc áo dài "nối thân" để dễ thay thế khi sờn mòn vì lao động không làm giảm đi vẻ dịu dàng duyên dáng của cô gái chèo đò trên sông Hương... Áo dài sớm có vị trí đặc biệt với phụ nữ Huế bởi sắc lệnh vua Minh Mạng ban hành và bởi nếp sống vương giả, điều kiện sinh hoạt của người dân đất đế đô. Các huyện ngoại thành Huế như Hương Trà, Phú Vang vẫn còn tên tuổi, dấu tích các làng dệt sản xuất các mặt hàng vóc, sa, lĩnh, gấm... và những làng thêu danh tiếng như Sơn Điền, Dương Xuân..., tất cả đã tạo nên một phong cách riêng biệt và nổi bật.

Cuộc đời bà Nguyễn Thị Duyên Sanh (52 tuổi, cựu nữ sinh Đồng Khánh, giáo viên trường THCS Hai Bà Trưng sau này), tấm áo dài là phần không thể thiếu. Bà Sanh mặc áo dài lần đầu tiên khi tròn 16 tuổi, lúc ấy Huế vừa qua cơn bão lịch sử Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1968. Chiếc áo ấy được chị gái bà may tay bằng vải mộc trắng đục, cổ vuông ngắn, eo buông, tay dài, tà rộng che kín toàn thân, mộc mạc đúng kiểu đồng phục nữ sinh Đồng Khánh thời bấy giờ.

Nếu chiếc áo chỉ là một kỷ vật thời hoa phượng, bà Duyên Sanh sẽ không nâng niu cẩn thận đến 36 năm nay. Chiếc áo mở đầu giai đoạn tuyệt diệu nhất trong đời bà: kể từ đây, cô bé Duyên Sanh trở thành người lớn, không còn mặc áo cộc ra đường và bắt đầu được phép coi áo dài như trang phục duy nhất khi rời cổng như mọi phụ nữ trưởng thành đất Cố Đô những năm trước 1975. Cũng từ đây, trong tà áo dài mềm mại mà khá cồng kềnh, phiền toái với người thiếu ý tứ, bà Sanh và các thiếu nữ cùng lứa giữ gìn dáng đi, cách đứng, nết ngồi sao cho luôn nhẹ nhõm. Khi được mời ngồi, họ ý tứ đưa mắt nhìn mặt ghế, khẽ vén vạt áo sau lên rồi mới nhẹ nhàng ngồi xuống. Những ngón tay mềm xếp tà trước, kéo thẳng thớm trên gối cho trang trọng và ưa mắt. Sau này, khi điều khiển xe máy, xe đạp, phụ nữ Huế cũng có những động tác cẩn trọng mà duyên dáng tương tự. Bà Sanh nói, trong chiếc áo dài, người phụ nữ cảm nhận niềm tự hào đức hạnh và ý thức giữ gìn đức hạnh ấy. Với kiểu dáng bó sát thân, chiếc áo giúp họ rèn luyện nét e ấp trời sinh. Trong tà áo dài, ai cũng buộc phải khép nép, chỉ có thể ngồi thẳng, bước ngắn, đánh nhẹ tay, khó có thể nói cười thoải mái như khi mang đồ đầm, đồ kiểu. Ngay cả các nữ sinh, tuy đồng phục không bó sát người, vẫn tự thấy phải giữ gìn cử chỉ, cử động nhẹ nhàng hơn. Một chút thiếu cẩn trọng cũng có thể làm nhăn vạt, rách tà. Một vệt đất nhỏ trên áo trong mỗi giây lơ là cũng có thể đập ngay vào mắt người đối diện. Chưa nói đến những tác động của thời tiết ở Huế - xứ mưa lắm, nắng nhiều; vạt áo có thể ướt đẫm nước mưa mùa đông, lấm tấm mồ hôi mùa hạ.

Thế nên, theo bà Duyên Sanh, loại trang phục bắt buộc và bó buộc này vô tình giúp người mặc trở nên ''mềm'' hơn. Bà từng quen con gái cố nhà thơ - họa sĩ Hải Bằng, một ''nàng'' nổi tiếng nghịch ngợm, cũng thành ''hiền'' sau một thời gian bị cha buộc chỉ mặc áo dài, trừ lúc ngủ. Không biết có phải vì bản tính e lệ của phụ nữ Huế không, mà bà Duyên Sanh cứ đẩy ''tiếng thơm'' của ''một nửa thế giới'' xứ mình cho chiếc áo dài đến vậy. Lớp thế hệ trước, rồi bà Duyên Sanh và các bạn học trường Đồng Khánh, từ những bà vợ quan trong triều, những tiểu thư khuê các mưa không đến mặt, nắng chẳng đến đầu, quanh năm trong phòng the, cung cấm đến các chị buôn thúng bán bưng với những gánh bún bò, cơm hến, bánh canh, những giỏ trái cây, xách bánh bèo, bánh lọc một nắng, hai sương từ mọi nẻo ngoại ô Văn Thánh, Kim Long, Nam Giao, Nguyệt Biều, Vĩ Dạ, lên những chuyến đò Thừa Phủ hay 14 tuyến xe buýt tỏa về các chợ nội thành... ai nấy đều kín đáo đến cao sang, nhỏ nhẹ đến nhẫn nhịn, rất Huế.

Chiếc áo dài Huế đã trầm bổng cùng tháng năm



Trang phục cung đình Huế xưa
Nhà nghiên cứu văn hóa Huế Phan Thuận An cho biết, biến tấu của áo dài xứ Huế gắn liền với những thăng trầm của lịch sử. Thời Minh Mạng, để khắc phục sự ăn mặc thiếu đồng nhất tại các miền sau giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, nhà vua ra sắc chỉ thống nhất y phục trên toàn quốc: Các phi tần, người hầu kẻ hạ đều mặc áo dài ngay khi vừa bước chân khỏi cấm cung. Dân gian phải mặc quần, cấm váy. Riêng với người lớn, áo dài trở thành trang phục bắt buộc khi ra đường.
Ngày ấy, áo dài Huế cũng như ở các vùng miền khác thường đậm màu và có đến 5 tà (sau này thành áo tứ thân - 4 tà). Mỗi thân trước và sau đều có 2 tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo. Tà thứ 5 ở bên phải, trong thân trước. Tay áo may nối dưới khuỷu tay (do ngày ấy các loại vải rộng nhất cũng chỉ đến khổ 40cm). Cổ áo cao khoảng 2-3cm cùng tay và thân áo trên ôm sát người. Tà áo được may rộng ra từ sườn đến gấu và không chiết eo, dài đến đầu gối. Gấu áo thường võng, vạt rộng đến 80cm. Về quần mặc cùng áo dài, trong khi các bà các cô từ Nam chí Bắc thịnh màu đen giản dị thì phụ nữ Cố Đô thường chọn màu trắng đầy nữ tính. Người trong hoàng tộc và các gia đình giàu có còn may quần chít ba (có 3 ly dọc 2 mép ngoài quần) để tạo dáng quần xòe rộng, trông yểu điệu mà cử động lại thoải mái hơn.
Đầu thế kỷ XX, đặc biệt khi thành lập trường Nữ sinh Trung học Đồng Khánh (1917), nữ sinh Trung kỳ đều dồn về Huế học, áo dài trở thành đồng phục sử dụng hàng ngày. Các nữ sinh đều mặc quần trắng, áo dài tím khi đến trường (sau này đổi thành áo trắng mùa khô, xanh nước biển mùa mưa).Đến những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, kiểu dáng của áo dài xứ Huế cũng như các vùng miền không thay đổi, tuy nhiên, màu sắc và chất liệu phong phú hơn hẳn. Chị em có thể chọn lựa nhiều loại vải nhập từ châu Âu với các tông màu tươi sáng. Nhờ khổ vải ngoại nhập rộng rãi, áo dài Huế cũng như các nơi khác không còn phần nối giữa sống áo, kéo dài xuống cách mắt cá 20cm, trông mềm mại hẳn. Phụ nữ Cố Đô vẫn nền nã với quần trắng - áo dài; thói quen này dần trở thành mốt thời trang của thiếu nữ nhiều vùng miền (trừ người đã lập gia đình).
Áo dài xứ Huế sẽ không có kiểu dáng như ngày nay nếu không trải qua cuộc cách tân, do một họa sĩ tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương, chủ tiệm may Le Mur danh tiếng ở Hà Nội và Hải Phòng tên là Cát Tường khởi xướng. Ông đem đến Hội chợ Huế 1939 một bộ sưu tập áo dài cách điệu lối Âu châu, với 2 tà thay cho 5, cổ khoét hình trái tim (có khi gắn thêm cổ bẻ và một chiếc nơ), tay nối trên vai bồng, hàng khuy chạy dọc theo vai và sườn phải đầy khêu gợi. Luồng gió thời trang này được phụ nữ Cố Đô tiếp nhận, tuy nhiên, do ảnh hưởng của nếp sống kín đáo, áo dài Huế chỉ cách tân trong chừng mực, bằng cách giảm số tà còn 2 và mở khuy từ vai xuống eo.
Những năm 50, cùng xu thế thời trang trên cả nước, áo dài xứ Huế bắt đầu lượn eo theo thân người mặc, cổ cao hơn, vạt thu hẹp lại để tôn dáng thiếu nữ. Đến khoảng những năm 60, khi chị em bắt đầu dùng áo nịt ngực, các tiệm may Huế mới chít eo áo dài, tạo sức quyến rũ cho người mặc. Cuối thập niên này, vai áo dài Huế, theo mốt Sài Gòn, được cắt raglan để tránh nhăn cho phần ngực và nách. Tuy nhiên, vẫn chít eo trong khi áo dài mini theo mốt ''Hippy'' (thân áo may lượn và không chiết eo, cổ ngắn, vạt hẹp, chỉ dài đến đầu gối) được chuộng ở hầu hết các đô thị phía Nam. Chiếc cổ cao kín đáo cũng vẫn được phụ nữ Huế chọn không suy tính trong khi người ta nô nức khoét cổ thuyền theo đề xướng của Trần Lệ Xuân.Từ sau 1975, áo dài gần như không thay đổi về kiểu dáng, dù vắng bóng hơn trong đời sống (theo nhiều người Huế, có thể do mức sống thấp những năm sau chiến tranh). Đến cuối những năm 90, khi làn sóng cách tân áo dài của các nhà thiết kế thời trang tràn về Huế, hầu như chỉ có người làm nghề biểu diễn hưởng ứng. Ngày nay, phụ nữ Cố Đô vẫn ''kín'' toàn thân với những chiếc áo dài vải không quá mỏng, vạt gần chấm gót, cổ vươn cao lượn tròn kín đáo, eo hạ thấp để giảm đến mức ít nhất khoảng lưng, bụng hở khi tà áo bay. Người phụ nữ Huế mặc áo dài trắng cả trong khi làm lụng, mua bán... Trước 1945, tiêu biểu cho vẻ đẹp Huế trong thời trang lại là một phụ nữ đến từ Nam Bộ: Nam Phương Hoàng hậu. Hay chính Huế đã góp phần tôn vinh vẻ đẹp của cô gái miền Nam? Đó là một hiện tượng hiếm hoi trong thế giới mode. Trang phục cổ truyền dành cho các cô dâu trong đám cưới ngày nay chính là "thời trang Nam Phương Hoàng hậu".
Áo dài Huế - Thanh tao xứ tím yêu kiều…



Áo dài xứ Huế
Áo dài xứ Huế
Ai đã từng đến Huế, muốn may áo dài thường tìm đến một ''cây kéo vàng'' ở đất Cố Đô, ông Nguyễn Văn Chi (tiệm may Chi, 29 Mai Thúc Loan). Theo nghề từ năm 1970, ông Chi đã chứng kiến nhiều đổi thay của chiếc áo dài xứ Huế. Ông cho biết, dù kiểu dáng, chất liệu qua thời gian có nhiều thay đổi nhưng quan niệm về sắc màu và mục đích sử dụng của người phụ nữ Cố Đô thì vẫn nguyên vẹn. ''Một nửa thế giới'' ở đây tuyệt nhiên không bị làn sóng thời trang lung lạc, vẫn nhuần nhụy ''trông màu trời, chọn sắc áo''. Áo Tết thường có màu tươi sáng. Áo mặc các dịp cúng, lễ,giỗ, kỵ may rộng, vải màu nâu (người Huế gọi là màu đà); xanh (gọi là màu tím); màu ghi (ở Huế là màu lam); màu cà phê sữa, với hoa văn chìm. Áo ra ngoài trời mưa màu đậm; còn để đi dưới nắng, thường nhạt màu, sáng trong. Phụ nữ xứ chiều tím cũng có màu áo tím đặc trưng của mình, không giống ở mọi nơi. Theo ông Chi, tím Huế không phải là màu bông bèo (màu hoa lục bình) trong Nam hay tím hoa cà ngoài Bắc, cũng không giống màu tím đậm của nước quả mồng tơi như nhiều người lầm tưởng. Với người Cố Đô, tím Huế không ngả qua đen, không tía qua đỏ mà chỉ đủ đậm như màu mực học trò trên giấy trắng.
Cùng với sự nền nã của màu sắc, vẻ kín đáo của kiểu dáng nét dịu dàng quý phái trong cử chỉ người mặc, chiếc áo dài tím với tà áo lồng lộng gió (như lời hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn) cùng vành nón lá che nghiêng mái tóc thề không biết tự bao giờ thành hình ảnh khó có thể thiếu khi người ta nhắc đến xứ sông Hương núi Ngự.
Các bạn người nước ngoài của nhà văn Bửu Ý (một người Huế gốc) từng ngưỡng mộ thốt lên: ''Không đâu có loại trang phục nữ nào kín đến thế, cũng không có loại áo nào hở cho bằng, nhất là khi khoác trên mình những cô gái dịu hiền xứ Huế''. Bởi đủ dài tha thướt để hút ánh mắt người ta theo vóc dáng thanh tao như bay, như múa trên phố. Đủ kín để người ta ước tìm chỗ nhô, chỗ hở. Càng đủ nhẹ để người ta thấy sức nặng quyến rũ của ánh mắt trong sáng,cử chỉ duyên dáng,nụ cười e ấp rồi cảm nhận trái tim nhân hậu dịu dàng của người phụ nữ vùng non thanh thủy tú này. Ngoài áo dài, những phụ nữ Huế còn có chiếc nón bài thơ duyên dáng. Chiếc nón bài thơ ngày nay cũng là kết quả của nhiều lần sàng lọc, qua thực tế sử dụng che nắng, che mưa. Để làm ra những chiếc nón đẹp,những người thợ làm nón phải chọn những lá non của cây cọ đem phơi khô, là phẳng để lợp nón. Bên trong lớp lá trắng ngần như lụa là hình ảnh con đò, bến nước quê hương và vần thơ quen thuộc.
Theo: maxreading.com

Hoa văn của người Pu Péo

- by Ana · - 0 Comments


Người Pu Péo không thêu trên trang phục các dải hoa văn chắp ghép bằng vải mầu xanh, đỏ, trắng, tím, vàng, nổi lên rực rỡ viền quanh 2 tà áo, trên tấm choàng hình quả trám phủ trước váy, quanh gấu váy và trên khăn đội đầu các hình tam giác, quả trám, hình chữ nhật là những hình cơ bản được chắp ghép tỉ mỉ, khéo léo tạo nên các họa tiết hình mào gà, mặt trời thể hiện những ý niệm chung về tín ngưỡng sùng bái. Mặt trời và những quan niệm Âm-Dương tương hợp nguồn gốc tăng trưởng, phồn vinh của con người và vạn vật trong vũ trụ.

Chủ đề tập trung, hình thức đơn giản, gây được một ấn tượng mạnh mẽ về mối tương quan, sự chuyển động của sắc mầu để tượng trưng cho sự biến chuyển của thiên nhiên, biểu trưng cho sự biến ảo kỳ diệu của vũ trụ, vạn vật là những điều khó khăn trong sự hạn chế của nghệ thuật trang trí, song người Pu Péo đã thực hiện được trên trang trí y phục của người mình với một mỹ cảm đặc sắc độc đáo. Những quy tắc bố cục cân đối cứng nhắc đã bị phá vỡ, nhường chỗ cho một phong cách phóng khoáng, linh hoạt. Hạt cườm các mầu, mặt mài bằng kim loại là các chất liệu trang trí có giá trị gợi cảm, gây ấn tượng trong đồ án trang trí.

Trong mấy mươi năm gần đây, phụ nữ các dân tộc nói chung, phụ nữ Pu Péo nói riêng có xu hướng sử dụng những mảnh vải mầu in hoa công nghiệp hiện đại để cắt, ghép hình trang trí kỷ hà trên trang phục. Dường như trong tâm thức người ta muốn đưa sự tươi mát, đường nét mềm mại uyển chuyển của tự nhiên mà họ tìm thấy sẵn trên các mẫu hình in hoa công nghiệp hiện đại, bổ sung cho trang trí cổ truyền. Song cách làm đó đã phá vỡ tính thuần nhất của nghệ thuật trang trí, gây ấn tượng có tính chất biểu trưng và đó là những dấu hỏi đặt ra cho các thế hệ cháu con về sự kế thừa và phát huy vốn trang trí truyền thống của Ông Bà trao lại, nó báo hiệu cho sự thay đổi nhiều mặt trong trang trí y phục dân tộc trong tương lai.
Theo: maxreading.com

Chiếc khăn Piêu và tình yêu trai gái

- by Ana · - 0 Comments

rong đời sống tình cảm của người Thái, trai gái yêu nhau còn nhờ chiếc khăn Piêu nói hộ lòng mình. Lúc xa nhau, các cô gái thường tặng chàng trai mình yêu mến chiếc khăn Piêu đẹp nhất. Chiếc Piêu từ giây phút đó trở thành cầu nối tình yêu của họ...

Có một bài dân ca nói về chiếc khăn Piêu, chiếc khăn đội đầu, vật trang sức quan trọng gắn bó với đời sống tình cảm của các cô gái Thái.

24.jpg

Em xe sợi thành vóc hoa dâu
Em dệt cửi thành gấm vân chéo
Em dệt tơ thành đoá hoa vàng
Người các bản các phường muốn khóc
ều ước ao được em thêu khăn.

Nguồn gốc chiếc khăn Piêu gắn với một truyền thuyết. Chuyện kể rằng, ngày xưa lắm, có một mường toàn đàn bà sinh sống với nhau. Bất kỳ một người đàn ông nào đi qua đều bị giết chết. Một hôm, có một người đàn bà đi rừng và gặp một người đàn ông ở mường khác lạc sang. Hai người đi lại với nhau và sinh được một người con trai. Về sau, người con trai lớn lên và thấy được cách sống vô lý của "mường mẹ" nên đã sang "mường bố" huy động lực lượng sang đánh. Mường đàn bà thất bại, xin mường đàn ông tha chết và hứa sẽ ở chung với mường đàn ông. ể đánh dấu sự thất bại của họ, mường đàn ông bắt họ đội khăn có in những dấu ngón tay đã điểm chỉ vào đó, gọi là những chiếc "cút".

Khăn Piêu được phụ nữ tự dệt bằng loại vải bông, nhuộm chàm, thêu các hoa văn với các loại chỉ màu ở hai đầu khăn. ể làm một chiếc khăn Piêu phải mất từ 2 đến 4 tuần thêu liên tục. Nhưng phụ nữ Thái chỉ thêu trong lúc nông nhàn, rảnh rỗi, cho nên xong một chiếc khăn phải qua hàng tháng trời. Thêu khăn Piêu đòi hỏi sự khéo léo. Vì vậy, từ khi 6, 7 tuổi, người con gái Thái phải học tập cách thêu các hoa văn. "Piêu" đã trở thành một tiêu chuẩn xã hội để đánh giá người phụ nữ tài hoa siêng năng hay vụng dại, lười nhác.

Trong đời sống tình cảm của người Thái, trai gái yêu nhau còn nhờ chiếc khăn Piêu nói hộ lòng mình. Lúc xa nhau, các cô gái thường tặng chàng trai mình yêu mến chiếc khăn Piêu đẹp nhất. Chiếc Piêu từ giây phút đó trở thành cầu nối tình yêu của họ. Đối với chàng trai, khăn Piêu ghi dấu tài hoa, hơi ấm bàn tay cô gái mình yêu. Trai gái Thái ở Sơn La khi yêu nhau mà không lấy được nhau, cô gái đến xin lại chiếc Piêu của mình đã tặng.

Vào các dịp lễ hội, khi một cô gái tung còn, chàng trai nào bắt được phải đền cho cô gái một hoặc hai đôi vòng bạc. Ngược lại, khi chàng trai ném còn, nếu cô gái không bắt được phải đem khăn Piêu ra tặng. Nhiều khi vì cớ đó mà họ yêu nhau. Nếu cô gái không yêu chàng trai thì có thể đem vật khác đến xin lại chiếc khăn Piêu của mình.

Khi tình yêu không thành, chuyện tình ngắn ngủi được người Thái ví như "đời Piêu, đời vải". Họ cho rằng, tình cảm đôi lứa không thành như "Piêu lụa xoạc đôi" mà "Piêu lụa đã xé đôi không thể đội lại được".

Chuyện tình yêu của trai gái Thái thật mãnh liệt, say sưa, xong cũng thật chân tình, mộc mạc, đằm thắm qua chiếc khăn Piêu. Khăn Piêu vừa là nét đẹp trang phục truyền thống, vừa thể hiện tinh hoa trong văn hoá ứng xử cần được nâng niu và giữ gìn.

Theo: quehuongonline.vn

Khăn phiêu của người Thái

- by Ana · - 0 Comments

Khăn piêu là đặc trưng trong y phục của phụ nữ dân tộc Thái. Với đường nét tinh xảo của những hoa văn mang đậm chất núi rừng hoang sơ cùng sắc màu rực rỡ, nó thể hiện tình yêu, sức mạnh nữ tính thật quyến rũ.
Từ những sợi chỉ sau khi xe, được nhuộm màu bằng chất liệu lấy từ vỏ cây, hạt quả, trên nền vải đen, cô gái Thái thêu chiếc khăn piêu. Mỗi người có cách thể hiện khác nhau phụ thuộc vào tâm tư, tính cách của từng người. Thông thường là những đường diềm rất phức tạp, phối màu chủ đạo đỏ, vàng, xanh. Chỗ thì thêu hình thoi, chỗ thì thêu hình chữ chi, có thể bằng một màu nhưng cũng có thể bằng nhiều màu. Những chi tiết thể hiện cánh hoa, dòng suối tết bằng chỉ màu phối hợp hài hoà với đường thêu tinh tế làm chiếc khăn piêu càng thêm sống động.

Khăn piêu trước hết để tặng người yêu. Trong các dịp lễ hội, các chàng trai tỏ tình thường tìm cách cướp khăn piêu với sự "tòng phạm" của chính các cô gái. Khi cô gái muốn bày tỏ tình yêu trước sẽ tìm mọi lý do: để quên, để rơi, thậm chí tung khăn piêu về phía các chàng trai, miễn sao khăn piêu thuộc về người ấy.

Trước khi lấy chồng, các cô gái Thái phải làm rất nhiều khăn piêu để tặng cho nhà chồng. Khăn piêu đẹp không chỉ bởi màu sắc và đường nét đầy ấn tượng, mà đó còn là tài năng và phẩm hạnh của người phụ nữ.
Theo: maxreading.com

Trang phục của người Si La

- by Ana · - 0 Comments

Trang phục của người Si La

Si La là một trong các dân tộc thiểu số hiện đang sinh sống ở Mường Nhé (Điện Biên) và Mường Tè (Lai Châu). Trang phục của người Si La mang nhiều nét riêng của tộc người, ngoài chức năng bảo vệ cơ thể về mặt sinh học còn có chức năng về xã hội, về giới tính và thẩm mỹ rất rõ nét. Đặc biệt là bộ trang phục của nữ giới phản ánh rất rõ những đặc trưng của lứa tuổi cũng như tình trạng hôn nhân gia đình.

Cũng như một số dân tộc anh em sinh sống trong vùng, trang phục của nam giới Si La cùng mặc quần ống chân què, áo cánh xẻ ngực, cài cúc, cổ đứng, có 2 hoặc 3 túi, màu chàm xanh. Tuy nhiên điều khác giữa đàn ông Si La với đàn ông các dân tộc khác là nhờ ở chiếc khăn đội đầu. Nam giới Si La bao giờ cũng đội khăn trắng, quấn khăn đầu rìu như nam giới Kinh xưa kia. Ngày nay, nam giới Si La đều ăn vận âu phục, bộ nam phục truyền thống đang dần bị chối bỏ, chỉ còn số ít người lưu giữ được và họ cũng chỉ mặc rất ít mỗi khi có dịp đặc biệt như lễ tết, cưới xin.

Khác với nam giới, phụ nữ Si La vẫn giữ được nét độc đáo truyền thống trong bộ trang phục của dân tộc mình. Bộ trang phục nữ giới gồm có váy, áo, dây lưng và khăn đội đầu.
Váy (Tồ Bi): Phụ nữ Si La mặc váy kín, dài đến mắt cá chân, màu đen. Khác với phụ nữ Thái, phụ nữ Si La khi mặc váy cũng quấn nhưng giắt váy về phía sau. Có lẽ do điểm khác này mà dân tộc Si La xưa kia còn được người Thái gọi là Khả Pẻ - người mặc váy quấn ra đằng sau. Mỗi chiếc váy có hai phần gồm cạp và thân váy.

Áo (Pi Khồ): Phụ nữ Si La mặc áo hơi bó thân, màu chàm, cài cúc bên nách phải, khác với áo nam, cổ áo nữ không may đứng mà chỉ viền theo mép vải nên luôn bám sát với da người mặc. Cổ áo, tay áo và gấu áo đều được viền hoặc may những khoanh vải khác màu, những đường viền này khiến cho bộ trang phục trở nên mềm mại, sinh động hơn. Nét độc đáo của chiếc áo nữ Si La lại chính là phần trang trí trên thân áo trước. Thân áo trước được tạo bởi một miếng vải có hình thang cân. Trên đó được đính 72 đồng xu bạc thành 9 hàng ngang. Giữa các hàng xu bạc trang trí các đường văn kẻ bằng chỉ đỏ.

Khăn đội đầu (Ty đa ì xù): Đối với phụ nữ Si La, chiếc khăn đội đầu cũng là một bộ phận không thể thiếu được, nó có liên quan đến lứa tuổi và tình trạng hôn nhân. Khăn của người phụ nữ gồm có hai loại: Khăn trắng và khăn đen.

Khăn trắng: Thông thường các thiếu nữ bắt đầu đội khăn ở độ tuổi 13 – 14 tuổi, khi mà những đặc điểm sinh học của giới tính bắt đầu xuất hiện trên cơ thể. Khăn làm bằng tấm vải trắng hình chữ nhật, dài chừng 80 cm, rộng 20 cm, trên nền có thêu hoa văn tạo thành những ô vuông lớn bằng chỉ đỏ.

Khăn đen: Ngay sau khi về nhà chồng, các cô gái Si La phải rời bỏ chiếc khăn trắng để đội khăn đen và chiếc khăn đen sẽ theo họ suốt đời cho đến lúc chết. Nghi thức đội khăn đen được thực hiện ngay trong ngày cưới do người mẹ chồng hoặc các bà cô chồng bố trí sắp đặt.
Trang phục của người Si La ngoài sự phân biệt về tộc người, giới tính, lứa tuổi, hôn nhân ra, bộ trang phục của họ không thấy thể hiện có sự phân biệt nào khác.

Theo: maxreading.com

25 thg 10, 2010

Trang phục của người Nùng An

25 thg 10, 2010 - by Ana · - 1 Comment


Trong truyền thống văn hoá vật chất của người Nùng An ở Phúc Sen,đáng chú ý là việc giữ gìn và bảo lưu bộ trang phục dân tộc truyền thống. Cũng giống như các dân tộc Nùng, Tày khác, trang phục của người Nùng An rất giản dị và chân phương được cắt may đơn giản nhưng cẩn thận từ loại vải chàm do họ tự tay làm nên. Đáng nói ở đây là hiện nay người dân PhyaChang vẫn thường xuyên mặc những bộ trang phục truyền thống của dân tộc mình. Cách ăn mặc trang phục truyền thống trong tất cả mọi việc như đi học, đi chợ, đi làm hay trong những ngày lễ hội, Từ người già đến con trẻ, từ nam giới đến phụ nữ đều mặc trang phục chàm. Những con em người Nùng An dù công tác ở đâu hay ở bất kỳ cương vị nào khi họ về đến bản đều mặc những bộ trang phục này rồi mới đi thăm hỏi họ hàng, đi chơi, hàng xóm hay đi làm nương rẫy giúp gia đình.
Trang phục của người Nùng An có phân biệt theo lứa tuổi và giới tính và rất phong phú về chủng loại. Trang phục nam gồm có: quần, áo, khăn đội đầu, thắt lưng, đồ trang sức bằng bạc, túi vải thêu... Quần áo trẻ em ở đây cũng có điểm khác biệt so với các nhóm Nùng khác gồm: quần, áo, mũ đội đầu và trong đó chiếc mũ được trang trí khá cầu ký với những hoa văn họa tiết sặc sỡ nhất...Khi đứa trẻ mới lọt lòng, người ta quấn nó bằng quần áo cũ của bố mẹ vì theo quan niệm của họ là trẻ mới sinh ra không nên cho trẻ mặc đồ mới,khi lớn lên chúng hay đua đòi, trong khi đó quần áo cũ thì vải đã mềm thoáng rất tốt cho trẻ nhỏ. Khi đứa trẻ được một đến hai tuổi người ta cắt quần áo đơn giản theo một kiểu chung không phân biệt nam nữ. Cho đến lúc chúng lên 9 – 10 tuổi, người mẹ bắt đầu cắt may quần áo phân biệt nam nữ cho con. Trong độ tuổi này các bé gái bắt đầu mặc quần áo và quấn đầu đội khăn như người lớn.
Đồ trang sức của người Nùng An chủ yếu bằng bạc trắng giới thường đeo vòng tay bằng bạc và nhẫn bạc, phụ nữ đeo kiềng cổ, khuyên tai, nhẫn, vòng đeo tay và đeo bộ xà tích ở ngang lưng. Quan niệm của người Nùng An thì bạc trắng không chỉ tôn thêm vẻ đẹp của con người, sự kết hợp của nó với việc phô trương sự giàu có mà còn có ý nghĩa bảo vệ sức khỏe cho họ. Khi nhìn vào đồ trang sức bằng bạc người ta có thể đoán biết được sức khoẻ của người đeo nó, nếu khỏe mạnh thì đồ trang sức vẫn sáng, trắng, nếu sức khỏe yếu mệt hay có bệnh thì bạc bị màu xỉn, thâm lại, không sáng trắng nữa. Và vì thế khi bị ốm hay cảm người ta vẫn thường dùng đồng bạc trắng để đánh gió.
Theo: maxreading.com

Trang phục dân tộc Sán Dìu

- by Ana · - 2 Comments


Dân tộc Sán Dìu có số dân khoảng 126.000 người, phân bố ở miền trung du thuộc các tỉnh Hưng Yên, Bắc Giang, Phú Thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyện, Tuyên Quang, Quảng Ninh. Dân tộc Sán Dìu còn có tên gọi khác là: Trại, Trại Đất, Mán Quần cộc, Sán Dẻo. Tiếng Sán Dìu thuộc nhóm ngôn ngữ Hán.
Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, có một phần nương rẫy, sỏi đá. Ngoài ra, còn có chăn nuôi, đánh bắt nuôi thả cả, khai thác lâm sản, đan lát, làm gạch ngói...Từ lâu đời nay, người Sán Dìu đã sáng tạo ra chiếc xe quệt (không cần bánh lăn) dùng trâu kéo để làm phương tiện vận chuyển.Cách gánh trên vai hầu như chỉ dùng cho việc đi chợ hàng ngày nơi đây.
Thường ngày người Sán Dìu dùng cả cơm cả cháo, đồ giải khát thông thường cũng là nước cháo loãng.
Trang phục của người Sán Dìu đã và đang đổi thay, cũng giống trang phục người Kinh.Những phụ nữ Sán Dìu có tập quán ăn trầu và thường mang theo mình chiếc túi vải đựng trầu hình múi bưởi có thêu nhiều hoa văn rực rỡ, kèm theo đó là con dao bổ cau có bao bằng gỗ được chạm khắc trang trí đẹp.
Người Sán Dìu ở thành từng chòm xóm nhỏ. Người Sán Dìu thường ở nhà trệt mái lợp rạ hoặc tranh ngói tường trình hay xây gạch mộc...
Trong gia đình, người chồng (cha) là chủ gia đình, con sinh ra theo họ cha, cũng như người kinh con trai được thừa hưởng gia tài. Việc cưới hỏi cho con cái là do cha mẹ quyết định . Con trai con gái phải được so tuổi, xem số trước khi nên duyên vợ chồng.
Việc ma chay cũng qua nhiều lễ thức. Những năm gần đây, người chết được bốc cốt-cải táng, đây là một dịp vui.
Người Sán Dìu thờ cúng tổ tiên, Thổ Thần,Tao Quân, nhiều nhà lập bàn thờ bà Mụ bảo hộ trẻ con... Trong một năm, đồng bào có các lễ: Hạ điền, thượng điền, cầu đảo, cơm mới..Theo chu kỳ sản xuất. Họ còn thờ cả Phật bà Quan âm, Tam Thánh, tổ sư của mình nữa. Trong thơ ca dân gian của người Sán Dìu phong phú việc dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam nữ (soọng cô) rất phổ biến. Truyện kể là những thơ ca đặc sắc. Những điệu nhảy múa thường xuất hiện trong đám ma. Nhạc cụ có kèn, tù và, sáo, trống, thanh lã, não bạt cũng để phục vụ nghi lễ tôn giáo.Có các trò chơi của dân tộc được đồng bào ưa thích là: đánh khăng, đi cà kheo, Sán Dìu, kéo co, đánh cầu lông....
Theo: maxreading.com

Trang phục của người Pà Thẻn

- by Ana · - 0 Comments


Người Pà Thẻn trước đây sống du canh du cư trên những vùng núi cao, hẻo lánh vùng núi phía Bắc. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước người Pà Thẻn đã hạ sơn sống định canh định cư thành làng bản ở những khu vực tương đối bằng phẳng gần khe suối giao thông thuận tiện.

Trang phục của người Pà Thẻn ngoài chức năng bảo vệ cơ thể còn có chức năng xã hội và thẩm mỹ rõ rệt.Như hiện nay trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn hầu như còn giữ nguyên,nhưng nam giới thì có nhiều thay đổi. Đa phần nam giới Pà Thẻn hiện nay đều mặc quần au may sẵn và áo sơ mi.Chỉ trong ngày cưới chú rể mới mặc áo bà ba đen, quần chè trang điểm thêm 2 chiếc khăn vắt chéo qua ngực và dùng thắt lưng màu trắng.

Bộ nữ phục Pà Thẻn nổi bật nhờ cách dùng màu của dân tộc mình. Đó là màu đỏ tươi vì vậy một số dân tộc gọi họ là người Mèo đỏ. Bộ nữ phục bao gồm đầy đủ áo, thắt lưng váy, yếm và khăn. Phụ nữ Pà Thẻn xưa nay vẫn để tóc dài được vấn quanh đầu bằng khăn đội đầu. Khăn thường có hai loại: khăn trong ( Ke sọ) và khăn ngoài( Sừ chỉ). Khăn trong làm bằng vải tự dệt nhuộm chàm, dài khoảng 30 cm nhưng được gấp nhỏ chỉ còn khoảng 5cm. Khi sử dụng khăn được vấn thành nhiều vòng xung quanh đầu và tạo thành một vành rộng như cái nón. Còn lớp khăn vấn ngoài được làm bằng vải màu đỏ dệt xen những sọc trắng.

Người Pà Thẻn chỉ có một loại áo dùng cho cả 4 mùa và trong mọi hoàn cảnh,những ngày thường cũng như ngày hội hè. Váy được may theo kiểu không cổ khi mặc hai thân vắt chéo với nhau thân sau dài hơn thân trước. Màu chủ đạo của áo là màu đỏ nhưng có phối màu với các màu sáng như màu trắng bằng cách ghép vải hoặc dệt thành các đường kẻ sọc. Cách cắt may và trang trí áo của phụ nữ Pà Thẻn hoàn toàn không giống với dân tộc nào.Theo hình thức trang trí của của áo kết hợp thêu và ghép vải để phối màu đã tạo nên một phong cách riêng cho trang phục Pà Thẻn.

Váy của phụ nữ Pà Thẻn là loại váy hở được làm bằng vải đỏ. Phần giáp với cạp váy được xếp thành nếp. Có thể chia các phần trang trí của váy thành năm phần: hai phần ngoài chỉ là vải đen không trang trí hoa văn khi mặc phần này sẽ được vắt chồng lên nhau về phía sau. Tiếp theo là hai phần được trang trí rất nhiều, thường được ghép vải trắng, đó, xen kẽ những dải thêu hoa văn. Và phần ở giữa được chia làm hai mảng:nửa dưới màu đỏ và thêu trang trí hoa văn, nửa trên để viền đen không trang trí.
Cùng với yếm, còn có váy, là một mảnh vải hình vuông, khi mặc chỉ cần đeo vào cổ, trông giống cái tạp dề nhưng không có chức năng như tạp dề mà là một bộ phận không thể thiếu trong trang phục của phụ nữ Pà Thẻn.

Phụ nữ Pà Thẻn dùng hai loại dây lưng: màu đen và màu trắng. Sinh hoạt hàng ngày họ dùng màu đen, còn trong các dịp lễ hội hay cưới xin mới dùng loại dây lưng màu trắng. Cũng như dân tộc Thái, người phụ nữ Pà Thẻn cũng có kiểu trang điểm bằng tóc để phân biệt người có chồng và người chưa có chồng. Những phụ nữ đã có gia đình thường tết tóc đuôi sam vấn quanh đầu thành vòng và lấy kẹp ba lá ghim lại. Còn những người chưa có chồng thì chỉ cặp tóc đằng sau theo kiểu đuôi gà.

Đồ trang sức của người Pà Thẻn gồm các loại như: vòng tay, hoa tai, vòng cổ vòng cổ được cả nam và nữ sử dụng,nhìn chung phụ nữ sử dụng nhiều hơn. Những trang sức này thường được đeo nhiều vào các dịp sinh hoạt cộng đồng, cưới xin,lễ hội... còn ngày thường họ chỉ đeo hoa tai.

Và túi đeo cũng được coi là một vật trang sức với phụ nữ Pà Thẻn khi xuống chợ hay đi chơi xa và là vật không thể thiếu của cô dâu khi về nhà chồng.
Theo: maxreading.com

Trang phục phụ nữ Dao Tiền

- by Ana · - 0 Comments


Với những sắc màu thổ cẩm rực rỡ và hoa văn tinh túy, những phụ nữ Dao Tiền đã làm nên những bộ áo,váy tôn vẻ đẹp của mình trước thiên nhiên.

Trang phục truyền thống của phụ nữ Dao Tiền đặc sắc, nổi bật là nhờ nghệ thuật trang trí và kỹ thuật nhuộm chàm. Với nghệ thuật thêu thoáng để lộ nền đen, nền chàm ẩn ngay trong các họa tiết có tác dụng làm giảm độ rực chói, mạnh mẽ của các mầu nguyên làm cho sự hòa sắc có độ chuyển êm trầm nhuần nhuyễn. Sắc màu và những hoạ tiết trên các sản phẩm may mặc, đặc biệt là của phụ nữ, chính là biểu tượng đặc sắc, độc đáo của một tộc người.

Sự gắn kết giữa trang sức với áo, váy là một nguyên tắc không thể thiếu trong trang phục người Dao Tiền, những đồng xu bạc, hay hạt cườm gắn lên mũ, áo, mang vẻ đẹp độc đáo. Nền thổ cẩm rực rỡ ở cổ áo, nẹp ngực, ống tay được sáng lấp lánh nhờ đồ trang sức bằng bạc với hoa văn tinh xảo càng làm tăng thêm vẻ đẹp của trang phục. Theo quan niệm của người Dao Tiền, khi cô gái về nhà chồng, ngoài váy, áo tự làm suốt một năm qua, còn có của hồi môn là những đồ trang sức bằng bạc do cha mẹ mình tặng. Những đồ trang sức này sẽ được giữ lại như bảo vật của gia đình, dòng họ và sẽ trao lại cho con cháu sau này. Mỗi người một vẻ, mỗi đồ trang sức một kiểu cách hoa văn, mỗi loại váy áo một thứ thổ cẩm đã làm nên một bức tranh xuân đầy màu sắc. Các cô gái Dao Tiền như tươi tắn và xinh đẹp hơn trong những bộ váy áo mới cùng nhiều trang sức bạc rung rinh theo nhịp bước chân. Với dân tộc Dao Tiền, đây cũng là cốt cách, là truyền thống văn hóa đậm chất nhân văn.


Theo: maxreading.com

Trang phục truyền thống của người phụ nữ Lự

- by Ana · - 0 Comments

Người phụ nữ Lự trong trang phục truyền thống

Dân tộc Lự ở Việt Nam có 4.964 người, cư trú chủ yếu ở 2 huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Người Lự có truyền thống trồng bông, nuôi tằm kéo sợi dệt vải phục vụ nhu cầu may mặc của cộng đồng. Trang phục của phụ nữ Lự gồm có: khăn đội đầu, áo, váy, thắt lưng.

Khăn đội đầu bằng vải bông nhuộm chàm đen dài khoảng 410 cm, rộng 30 cm, hai đầu khăn có tua dài khoảng 20cm.Trên nền đen của hai đầu khăn dệt xen kẽ 18 đường chỉ trắng to nhỏ khác nhau và hai đường chỉ vàng chạy ngang tô điểm cho khăn. Khi sử dụng, khăn được gấp bốn theo chiều dọc và được quấn quanh đầu nhiều vòng búi nghiêng về phía bên trái đầu.
Áo may bằng vải chàm đen, áo tứ thân, ghép liên kết với nhau từ 6 miếng vải cắt theo hình rẻ quạt, tạo cho áo có vạt xòe rộng so với eo. Hoa văn dệt kết hợp với hoa văn ghép vải. Cổ áo liền với nẹp ngực gồm 5 miếng vải khâu cầu kỳ các màu nhau tạo thành. Miếng vải ở giữa được đáp những quả hình trám màu xanh đỏ nối tiếp nhau.
Tay áo dài, được may thon dần về phía cổ tay viền một vòng vải hoa nhỏ, sát nách có thêu hoa văn chạy vòng quanh ống tay. Trên thân áo bên trái thêu một đường chỉ nhỏ hình gióng trúc chạy từ cổ thẳng xuống vạt áo bằng chỉ các màu.

Vòng quanh eo áo từ phía trước ra phía sau là hoa văn ghép vải, đồng bào gọi đó là "con suối uốn lượn". Dưới hoa văn ghép vải là những hình tam giác thêu bằng chỉ các màu. Hai bên vạt áo được đính hai dây vải hoa, dải dây bên sườn phải có năm tua bằng sợi len các màu có xâu những hạt cườm. Khi mặc, người ta vắt chéo thân bên trái sang phía sườn phải và buộc hai dây vải với nhau, dây được buông thõng tới gần đầu gối, khi bước đi hai dải dây nhún nhảy đung đưa tạo sự uyển chuyển mềm mại của người phụ nữ.

Hàng ngày phụ nữ Lự thường mặc từ hai đến ba chiếc váy cùng một lúc. Chúng được lồng vào nhau thành nhiều tầng, mỗi chiếc cách nhau từ 3-4 cm theo chiều cao dần. Đồng bào quan niệm mặc như vậy vừa kín đáo vừa đẹp, vừa có thể thay đổi cho nhau khi chiếc váy ngoài đã cũ. Váy được tạo bởi ba miếng vải khác nhau, hình ống và chia làm ba phần gồm cạp, thân và chân váy. Cạp váy bằng vải bông nhuộm nâu, không trang trí hoa văn. Thân váy bằng vải tơ tằm được dệt trên một khung cửi riêng, kỹ thuật dệt phức tạo và đòi hỏi sự khéo léo của người dệt để tạo thành những hoa văn theo ý thích của từng người. Thân cải hoa văn thành hai phần rõ rệt. Nửa thân tiếp giáp với cạp váy bằng vải tơ tằm màu nâu sạm, trên có dệt xen nhiều sọc màu vàng và đỏ chạy song song theo chiều ngang của váy.

Nửa thân sau giáp với chân váy bằng vải tơ tằm có dệt hoa văn, thêm vào đó là những phần thêu bằng len. Hoa văn nổi bật ở thân váy quả trám cao 10 cm, xen kẽ giữa hai quả trám là hình hai người quay ngược đầu vào nhau tay dang ra hai bên. Chân váy bằng vải bông nhuộm đen, gấu váy viền bằng vải hoa rộng 1cm. ở khoảng giữa có khâu nối 9 ô vải hoa các màu theo chiều dọc từ thân váy xuống gấu váy, kết thúc là hoa văn các hình tam giác xanh và đỏ xen kẽ nhau nhằm giúp váy thêm nổi bật. Thắt lưng bằng vải mộc trắng, hai đầu thêu hoa văn 6 đường chạy ngang, đường thứ 4 được thêu cầu kỳ hơn và ở đuôi thắt lưng để nhiều tua sợi, khi thắt họ gấp đôi khổ vải, buộc sang bên cạnh sườn bên trái, để thõng hai đầu dây cho mềm mại. Vòng cổ được làm bằng bạc (ngày nay bạc hiếm họ chuyển sang làm bằng nhôm) vòng hình tròn, hai đầu vòng uốn gập ngược lại tạo ra hai lá hình tam giác, trên mặt lá có chạm khắc hoa dây mềm mại.Trang phục của phụ nữ Lự là nét đẹp văn hóa độc đáo trong 54 dân tộc Việt Nam nó đóng góp vai trò to lớn trong kho tàng văn hoá dân tộc, là niềm tự hào dân tộc, là đặc trưng văn hóa cần được bảo tồn và giữ gìn phát huy.

Theo: maxreading.com

Trang phục truyền thống của người Bố Y

- by Ana · - 0 Comments

Trang phục của người Bố Y

Dân tộc Bố Y ở Việt Nam là một trong những dân tộc có số dân ít nhất trong nhóm Tày Thái. Bố Y chia làm hai nhóm có tên gọi chung: nhóm ở Quảng Bạ (Hà Giang) có tên gọi là Bố Y, nhóm cư trú ở Lào Cai mang tên là Tu Di.

Trang phục nam: Nam giới thường mặc áo cổ viền, loại áo cánh ngắn, tứ thân; quần lá tọa màu chàm bằng vải tự dệt.

Trang phục phụ nữ dân tộc Bố Y trong khoảng một thế kỷ gần đây có nhiều biến đổi về kiểu dáng, chất liệu, cách mặc… Bộ y phục cổ truyền của phụ nữ Bố Y ở Tam Đường, Phong Thổ, Lai Châu gồm: khăn đội đầu, áo trong, áo ngoài, váy to, váy nhỏ, tạp dề.

Khăn đội đầu (ba can) bằng vải nhuộm chàm, là loại khăn dài 300cm, chiều rộng 35cm. Hai đầu khăn được khâu vắt mép bằng chỉ màu ghi, cạnh mép khăn dùng chỉ màu khâu thưa để đường chỉ nổi rõ có tính chất trang trí cho khăn. Khi dùng, gập đôi khăn theo chiều dọc rồi quấn xung quanh đầu, đuôi khăn ngoài cũng có thể giắt hoặc buông.

Áo trong (pủ đy) là loại áo kiểu tứ thân mở ngực, có một chiếc cúc đồng cài giáp cổ. Hai vạt áo trước có hai túi nhỏ cân xứng nhau để đựng tiền và đồ. Cổ áo liền với nẹp ngực được đáp bằng vải chàm xanh, cổ tay áo đáp khoanh vải màu xanh rộng 10 cm, hai đầu khoanh vải xanh viền một đường vải trắng 1 cm. Áo trong (pủ đý) được coi là loại áo lâu đời nhất trong bộ y phục cổ truyền của phụ nữ Bố Y. Hiện nay áo “pủ đý” không sử dụng mà cất kỹ trong hòm, khi chủ nhân quá cố mặc sang thế giới bên kia.

Áo ngoài (pủ pấp) bằng vải thô nhuộm chàm dài 60 cm, rộng 55 cm (tùy người cụ thể có kích thước khác nhau). Áo may kiểu tứ thân không có cúc cài, chỉ có một đôi dây vải, một chiếc đính phía dưới vạt áo trái, một chiếc đính nơi xẻ tà nách bên phải, khi mặc áo chúng được buộc lại với nhau.

Cổ áo (vừa pủ) liền với nẹp ngực, được khâu táp hai miếng vải màu xanh nhạt, nẹp áo trước ngực bằng vải đỏ. Trên nẹp vải đỏ thêu hoa văn, đồng bào gọi là con rồng (lùng). Nẹp áo trước ngực bằng vải xanh lơ trên thêu hoa văn hình răng cưa (vùa lùng). Tay áo liền với thân, ống tay rộng, có nẹp vải trắng bên trong, bên ngoài dùng vải màu khâu xa mũi tạo thành ba chấm liên tiếp để trang trí.

Váy to (vấn lậu) hay còn gọi là váy dài, váy bằng vải thô nhuộm chàm dài 85 cm, cạp váy rộng 35 cm, là loại váy mở khép mí, gồm ba phần cạp váy, thân váy, gấu váy. Cạp váy (roi vấn) bằng vải thô màu trắng, hai cạnh cạp có đính hai dây vải để buộc. Thân váy được gấp nếp mới đính vào cạp váy có độ xòe khá lớn. Gấu váy (pấn vấn) là mảnh vải được dệt bằng chỉ màu xanh, đỏ, tím, ghi, tạo thành những đường kẻ nhỏ khâu ghép vào thân váy, gấu váy cũng được gấp nếp như thân váy. Váy to dùng che trước bụng, loại váy này trước kia dùng trong các dịp lễ tết, hội hè, cưới xin. Hiện nay không dùng nữa, nó được cất kỹ để mặc vào lúc quá cố.

Váy nhỏ (vấn biên) bằng vải thô nhuộm chàm dài khoảng 50 cm, cạp váy rộng 30cm, gồm ba phần cạp váy, thân váy, gấu váy. Cạp váy (roi vấn) bằng vải thô nhuộm chàm màu xanh, hai cạnh cạp váy đính hai dây vải để buộc khi mặc. Thân váy (coóng vấn) được cấu tạo khác váy to. Phía giáp cạnh váy là một miếng vải chàm gấp nếp nhỏ sít vào nhau theo chiều dài của váy. Tiếp đến là mảnh vải sợi màu đỏ đồng bào gọi là "tục vấn", nằm giữa váy và cũng được gấp nếp theo chiều dài của váy. Dưới "tục vấn" là dải vải thô nhuộm chàm cũng được gấp nếp theo chiều dài của váy. Gấu váy (pấp vấn) liền với thân váy được khâu viền ở phía trong. Cách mặc váy truyền thống của phụ nữ Bố Y: trước hết đặt váy to vào giữa bụng và buộc dây sau lưng, sau đó đặt váy nhỏ vào giữa lưng và buộc dây trước bụng. Bộ váy truyền thống của phụ nữ Bố Y thực chất là hai mảnh vải xếp nếp khép lại, khi mặc tạo kẽ hở (váy hở) ở hai bên hông để đi lại dễ dàng.

Tạp dề (vẩy dao) bằng vải thô nhuộm chàm dài khoảng 115cm, rộng 80cm. Tạp dề được đeo ngoài áo và váy trong những dịp lễ tết, hội hè, cưới xin gồm hai phần: yếm che và dây đeo. Yếm che bằng vải chàm, giữa yếm có thêu họa tiết hoa văn hình con cua cách điệu. Dây đeo bằng vải chàm được đính hai bên cạnh nhỏ của tạp dề. Khi dùng buộc vòng qua cổ. Dây buộc sau lưng được đính trên hai cạnh to của tạp dề, khi dùng buộc thắt sau lưng.

Trang phục của phụ nữ Bố Y là nét văn hóa độc đáo trong 54 dân tộc Việt Nam. Trang phục tộc người đóng góp vai trò to lớn trong kho tàng văn hóa dân tộc, là niềm tự hào dân tộc, là đặc trưng văn hóa của mỗi tộc người cần được bảo tồn và gìn giữ phát huy theo tinh thần Nghị quyết V khóa VIII của Trung ương Đảng trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Theo: maxreading.com

Blogroll

VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

Vanhoanguoiviet.com muốn gửi tới cho các bạn phong tục, tập quán,làng nghề, trang phục cũng như món ăn cổ truyền của người Việt từ xưa tới nay.

Được phát triển bởi Nguyễn Hiền|