Bài viết mới đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quảng Bình Quê Tôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quảng Bình Quê Tôi. Hiển thị tất cả bài đăng

4 thg 7, 2013

Sự phát triển của thành phố Đồng Hới

4 thg 7, 2013 - by Ana · - 0 Comments



Cửa Đông - Thành Đồng Hới
Thành Đồng Hới, tên chữ: Định Bắc Trường Thành, tọa lạc trên một vùng đất xung yếu, cắm một cái chốt độc đạo trên con đường xuyên Việt từ Bắc vào hay Nam ra. Thành gần biển, cách cửa biển Nhật Lệ 1.500m. Phía Đông là con sông Nhật Lệ, phía Tây cách rừng khoảng vài nghìn mét. Thành nằm ở phường Hải Đình, trung tâm thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Đây là di tích kiến trúc - nghệ thuật thành luỹ quân sự.
Thành Đồng Hới được khởi công xây dựng từ năm Gia Long thứ 16 (1812) bằng đất (Nguyễn Ánh chính thức vào thành Phú Xuân ngày 15 tháng 6 năm 1802 lên ngôi hoàng đế đặt niên hiệu là Gia Long). Thành được xây ngay trên mảnh đất xưa kia chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho xây bức luỹ Trấn Ninh (luỹ Đào Duy Từ 1631) và đồn Động Hải 1774. Tám năm sau khi Gia Long mất, Minh Mạng nối ngôi, ông đã nhờ một sĩ quan người Pháp thiết kế lại thành Đồng Hới và xây lại bằng gạch (1824) theo kiểu vô băng, thành luỹ quân sự, thành có kiến trúc đẹp, hình múi khế, 4 múi to, 4 múi nhỏ, 4 múi nhỏ theo hướng Tây Nam - Đông Bắc và Tây Bắc - Đông Nam. Chu vi thành 465 trượng (1.860m), cao 1 trượng (4m). Mặt thành rộng 1m35, móng thành dày 2m. Mặt chính của thành quay về hướng Tây. Thành có 3 cổng lớn Bắc - Nam - Đông, trên cổng có vọng canh 8 mái. Cổng thành xây uốn kiểu tam quan thông ra ngoài bằng chiếc cầu gạch cũng xây kiểu vòm cuốn xinh xắn.
Ngoài thành cách chân thành khoảng 5 - 6m là hào rộng 7 trượng (28m) nay còn lại khoảng 15-20m. Mặt trong thành đắp đất phụ thêm dày 3 trượng (12m). Phần đắp đất phụ này hầu hết đã bị san phẳng còn lại dấu tích rất ít. Thành xây bằng gạch, vữa bằng mật mía trộn cát (không tô trát). Gạch có độ nung cao, loại gạch to (gạch vồ) có hai loại: 0,3m x 0,3m x 0,06m và 0,28 x 0,14 x 0,06. Các đầu múi khế là các vọng lâu và là những sở chỉ huy trực tiếp khi có các cuộc chiến đấu xảy ra. Năm 1842, Thiệu Trị lên ngôi được hai năm, ông đã đi Bắc tuần Động Hải và ra lệnh cho quan Thượng thư Bộ công và quân dân địa phương tu sửa lại thành và các luỹ cũ chắc chắn hơn.
Thành Đồng Hới ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, từ thời Lý Thánh Tông và Lý Thường Kiệt đi chinh phạt giặc Chiêm Thành (thế kỷ XI), Trần Duệ Tôn (thế kỷ
Một góc Thành Đồng Hới
XIV) Lê Thánh Tông (thế kỷ XV) đi kinh lý phương Nam. Mảnh đất bi hùng này còn chứng kiến cuộc hành quân thần tốc của người anh hùng Nguyễn Huệ, hai lần ra Bắc chinh phạt lũ bán nước và cướp nước. Đến thế kỷ XVII trên mảnh đất thành Đồng Hới là vùng ’’phên dậu’’ tranh chấp đất đai. và quyền lực giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn suốt 45 năm (1627 -1672) gây nên cảnh "nồi da xáo thịt’’, "huynh đệ tương tàn".
Thành Đồng Hới thể hiện lòng yêu nước và tinh thần quyết tâm chống thù trong giặc ngoài của người dân Quảng Bình.
Năm 1885, thực dân Pháp tấn công thành Đồng Hới nhưng nhân dân và binh sĩ vùng Động Hải đã đánh trả quyết liệt, cuối cùng thực dân Pháp phải rút lui. Do sự hèn nhát của bọn vua, quan Triều Nguyễn, ngày 19-7-1885 thực dân Pháp tấn công thành Đồng Hới lần thứ hai và chúng đã chiếm được thành dễ dàng. Trong phong trào “Cần vương” nhân dân Đồng Hới tham gia nghĩa quân của Nguyễn Phạm Tuân chỉ huy, đã ba lần đột nhập thành Đồng Hới (tháng 1, tháng 6 và tháng 8 năm 1886) tấn công binh lính Pháp trong thành gây cho chúng nhiều tổn thất.
Qua chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954) quân và dân thị xã nhiều lần tập kích quân Pháp ở trong thành gây cho chúng nhiều thiệt hại. Ngày 18-8-1954, tên Pháp cuối cùng rời khỏi thành rút xuống tàu há miệng về nước.
Ngày 16-6-1957, vinh dự cho quân và dân Quảng Bình được đón Bác Hồ kính yêu vào thăm và nói chuyện. Thành Đồng Hới rợp cờ hoa và biển người đón Bác.
Thành Đồng Hới từ khi xây dựng cho đến nay luôn là trụ sở của cơ quan đầu não (của ta và của địch) và là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của một vùng, một phủ và của tỉnh Quảng Bình.
Thành hiện này còn một nửa. Đoạn thành phía Đông, 3 cổng và hai cầu Nam - Bắc đã bị sập hoàn toàn do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Cầu phía Đông còn nhưng không nguyên dạng như ban đầu. Thành còn 1.087m với 15 đoạn dích dắc hình răng khế. Đoạn thành phía Nam còn lại 2/3 tương đối nguyên vẹn.
Ngày nay, mỗi bước phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh nhà đều ghi thêm một trang sử mới cho di tích thành Đồng Hới. Nhiều công trình mới mọc lên nhưng không làm mất đi vẻ cổ kính của thành Đồng Hới mà trái lại càng tô điểm thêm cho toà thành cổ soi bóng bên dòng sông Nhật Lệ.

Bến Phà Gianh

- by Ana · - 0 Comments


Bến Phà Gianh
Di tích Lịch sử bến phà Gianh nằm ở hạ Lưu sông Gianh, cách cửa biển về phía tây 2 km (bến phà I) và 5 km (bến phà II). Với vị trí địa lý như vậy, đến với di tích bến phà Gianh bằng đường bộ hoặc đường thủy đều thuận lợi. Trên quốc lộ 1A, bến phà Gianh ở tại km 625 + 500, cách Hà Nội 462 km về phía Nam, cách tỉnh lỵ Quảng Bình 34 km về phía Bắc. Đi bằng đường thủy, từ cửa biển vào sông Gianh, ngược về phía thượng nguồn từ 2 đến 7 km là có thể ghé thuyền thăm di tích.
Các sông ngòi ở Quảng Bình đa phần đều chảy từ Trường Sơn ra biển (theo hướng tây sang đông). Chính vị trí địa lý đó cửa Quảng Bình nếu xét về mặt giao thông vận tải, các con đường, các dòng sông, cửa biển đều có một vị trí quan trọng trong thời chiến tranh cũng như trong hòa bình, xây dựng. Lúc xưa, khi phương tiện chiến tranh còn thô sơ, núi và sông thường được lợi dụng làm phòng tuyến thành lũy thiên nhiên, hỗ trợ đắc lực cho các kế sách tranh giao đất đai, quyền lực giữa các thế lực chống đối nhau. Sông Gianh là một chiến lũy thiên nhiên lợi hại, sông rộng to, đôi bờ khá trống trải tạo nên sự cản trở đắc lực trong những cuộc giao tranh. Các triều đại phong kiến, bọn xâm lược ngoại bang đều lợi dụng sự chia cắt địa lý của sông Gianh ở Quảng Bình để phục vụ lợi ích của mình.
Đặc biệt, dòng sông Gianh đã từng là chứng nhân của một thời kỳ lịch sử Trịnh - Nguyễn phân tranh, của hai tập đoàn phong kiến này lấy sông Gianh làm giới tuyến. Nhân dân 2 bờ Nam - Bắc sông Gianh phải chịu đựng biết bao tang thương, khổ đau do nội chiến kéo dài, dai dẳng.
Sau khi chiếm được nước ta, thực dân Pháp thực hiện công cuộc thực dân hóa, bóc lột thuộc địa. Chúng cho xây dựng Quốc lộ 1 để tiện bề khai thác, vơ vét và đưa quân đàn áp phong trào phản kháng của nhân dân ta. Tại đoạn Quốc lộ 1 đi qua Quảng Bình, chúng cho xây bến phà Gianh (vào năm 1886).
Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân. Cùng với những công việc bề bộn khác, chính quyền tỉnh nhà đã nhanh chóng khôi phục hoạt động của bến phà để phục vụ cuộc sống của nhân dân.
Năm 1947, thực dân Pháp quay trở lại đánh chiếm Quảng Bình. Từ đây, nhân dân Quảng Bình cùng với nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ bước vào cuộc kháng chiến gian nan, quyết liệt chống thực dân Pháp, giành độc lập, tự do.
Những năm thực dân Pháp chiếm đóng Quảng Bình (1947 - 1954), ở vùng sông Gianh, chúng đóng đồn ở Thanh Khê, ngay cạnh bờ Nam bến phà Gianh nhằm bảo vệ đường chuyển quân trên Quốc lộ 1, và để từ đây đưa quân ngược sông Gianh đánh phá cướp bóc vùng thượng lưu. Nhân dân ta tích cực kháng chiến, tổ chức đánh du kích, kìm hãm bước tiến của kẻ thù. Đoạn Quốc lộ 1 từ bờ bắc phà Gianh trở ra bị nhân dân, du kích ta triệt để phá hoại. Vì vậy, giặc Pháp không thể sử dụng được. Bến phà Gianh ngừng hoạt động.
Năm 1954, hòa bình lập lại trên miền Bắc. Thực hiện kế hoạch hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, bến phà Gianh nhanh chóng được khôi phục. Bằng tinh thần lao động cần cù, thông minh, sáng tạo chỉ trong một thời gian ngắn, bến phà Gianh bị bỏ hoang từ lâu đã được sửa chữa, phục hồi và đi vào hoạt động.
Năm 1960, bến phà Gianh xưa không còn đáp ứng được yêu cầu cho việc chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, Bộ Giao thông Vận tải quyết định xây bến phà Gianh mới, chuyển lên phía thượng lưu, cách bến phà cũ 5 km, bờ bắc thuộc xã Quảng Thuận, bờ nam thuộc xã Hạ Trạch với qui mô lớn hơn nhiều so với trước đây. Đây là vị trí sông hẹp nhất (ở hạ lưu) cách xa cửa Gianh 7 km. Bến phà mới có tên là bến phà Gianh (hay là bến phà lI) bến phà cũ mặc nhiên được gọi là bến phà I.
Bị thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Ở Quảng Bình, máy bay Mỹ đánh vào cửa Roòn, cửa Gianh. Bộ đội phòng không, hải quân và dân quân tự vệ, các đơn vị và nhân dân trong vùng đã kịp thời tổ chức lực lượng phối hợp chặt chẽ đánh trả địch quyết liệt.
Lúc này, cán bộ chiến sỹ phà Gianh thực hiện vượt sông ở cả 2 bến. Nếu bến phà I bị tắc đường thì sử dụng bến phà II và ngược lại. Ngoài ra, chúng ta còn xây dựng các bến phụ, lập phương án điều hành các đoàn xe vượt sông theo các tình huống khác nhau được chuẩn bị từ trước. Ở các điểm vượt sông đều có phương án “4 trước”: Đề án thiết kế trước, vật liệu thì công chuẩn bị sẵn trước, bố trí lực lượng thi công trước và phân công người chỉ huy trước. Nhờ vậy, bến phà Gianh tuy gặp vô vàn khó khăn nhưng vẫn đảm bảo mạch máu giao thông thông suốt, chi viện kịp thời cho cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở chiến trường miền Nam. Khẩu hiệu hành động “Đầu đội bom, chân bám phà, tay lái, tay súng, miệng hát bài ca chiến thắng” đã trở thành phong trào cách mạng trong toàn đơn vị.
Bằng những việc làm sáng tạo, với lòng dũng cảm trong chiến đấu và lao động của các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong và nhân dân địa phương, phà Gianh vẫn hoạt động thông suốt, chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.
Bến phà Gianh nhiều đêm bị tắc, chi đoàn bến phà Gianh phát động phong trào đoàn viên làm nòng cốt trong việc mở luồng vượt sông. Bí thư chi đoàn Võ Xuân Khuể là người đi tiên phong, lái ca nô mở hết tốc lực lướt nhanh qua bom từ trường, kích cho bom nổ đằng sau, mở luồng an toàn cho phà chở hàng, chở xe qua sông. Hành động của anh được ghi nhận bằng câu thơ thật giản dị, nhưng sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng:
"Giọt máu đỏ quí hơn vàng
Nhưng khi Đảng gọi, sẵn sàng hiến dâng’’
Công việc đưa hàng, đưa xe vượt sông ban đêm đầy hiểm nguy, vất vả. Nhưng việc ban ngày đưa phà, ca nô đi dấu cũng chẳng kém phần gian nan. Lúc đầu, phải đưa phà, ca nô lên tận Thuận Bài, Minh Lệ, La Hà, vừa xa, vừa kém an toàn. Công việc này đòi hỏi một cuộc đấu trí vô cùng gay go, quyết liệt. Cuối cùng chiến sỹ bến phà Gianh đã tìm ra cách thích hợp. Có chiếc ca nô đậu gần bến bị địch đánh hỏng, ngày ngày máy bay Mỹ nhận biết đó là “Mục tiêu chết” không dòm ngó nữa, anh em cho thay vào đó chiếc ca nô “sống” và ngụy trang giống như chiếc ca nô hỏng, vậy là lừa được địch. Nhưng với con phà, mục tiêu lớn hơn, không thể “chơi trò ú tim” như với ca nô được. Các kỹ sư Hoàng Ngọc Bích, Lê Văn Câu... đã tích cực nghiên cứu, vắt óc sáng chế đóng mới loại “phà dìm” tại chỗ. Phà có 3 khoang, 2 khoang ngoài có “lổ lù” cho nước vào ra được. Khoang giữa để rỗng, bít kín không cho nước vào. Mỗi khi nước vào đầy hai khoang ngoài, phà chìm lơ lững dưới mặt nước, máy bay địch không thể phát hiện được mục tiêu. Tối đến bơm rút nước ra, phà nổi dần, đưa vào bến hoạt động bình thường. Chiếc “phà dìm” ra đời là một sáng tạo có hiệu quả tốt của cán bộ, chiến sỹ bến phà Gianh, tiện lợi trong việc cất giấu đã rút ngắn được thời gian chờ đợi, nhờ vậy tăng chuyến vượt sông mỗi đêm.
Mặc dù địch đã huy động đến mức cao nhất lực lượng và vũ khí tập trung đánh phá có tính hủy diệt các mục tiêu quân sự, kinh tế... nhưng địch vẫn không ngăn nổi sự chi viện của đồng bào, chiến sỹ miền Bắc cho cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc của đồng bào, chiến sỹ miền Nam. Trong thành tích chung của quân và dân Quảng Bình có sự cống hiến xuất sắc của cán bộ, chiến sỹ bến phà Gianh trên mặt trận đảm bảo giao thông. Nhiều gương hy sinh anh dũng, nhiều hành động dũng cảm của cán bộ, chiến sỹ bến phà Gianh đã xuất hiện, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam được phát huy cao độ trên mặt trận giao thông vận tải.

Đền Công chúa Liễu Hạnh

- by Ana · - 0 Comments


Đền Liễu Hạnh Công Chúa
Đền nằm dưới chân núi Đèo Ngang, ở một khu đất khá bằng phẳng, sát đường thiên lý Bắc - Nam trước đây, phía sau đền là dãy Hoành Sơn, ngay trước mặt là hồ nước ngọt của xã Quảng Đông, mặt đền quay hướng Nam cũng là hướng biển.
Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt cũng như một số dân tộc anh em, việc tôn thờ nữ thần, thờ Mẫu là một hiện tượng khá phổ biến và có căn nguyên lịch sử xã hội sâu xa.
Việc coi trọng phụ nữ, coi trọng vai trò người mẹ, người vợ ở nước ta, một truyền thống tất đẹp và có sức sống mãnh liệt của văn hóa dân gian. Chính là cơ sở chính trị và xã hội, cơ sở tinh thần và tâm linh, đã hình thành và phát triển tục thờ nữ thần, tục thờ các bà mẹ, các Mẫu, một tục có từ thời Văn Lang, Âu Lạc và còn truyền lại cho đến ngày nay, chính là tục thờ thần của người Việt cổ.
Đền thờ Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang, Quảng Bình vừa có sự tích riêng, vừa là hình tượng Mẫu Liễu Hạnh chung trong đời sống tâm linh của nhân dân ta.  Đền Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang có diện tích khoảng 335m2. Từ đường thiên lý Bắc - Nam đi vào, lần lượt qua cổng đền, bức bình phong, cổng Tam quan, hai trụ đầu lân trước điện thờ, đền Tiền, đền Hậu. 
Nhìn tổng thể kiến trúc của đền, chúng ta thấy đây là một công trình kiến trúc tuy nhỏ, được xây dựng bằng đá, gạch, vôi nhưng vẫn mang truyền thống mỹ quan á Đông và bảo lưu được bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này được thể hiện qua kết cấu cổng tam quan được bố trí một cách đối xứng, cân đối và hài hòa, sự cân xứng và đăng đối, hài Hòa ở đây là nói lên sự trung chính, ngay thẳng và cũng là ước mơ của con người. Mặt khác, lối cấu trúc cân xứng, đăng đối và hài Hòa đó còn tạo ra vẽ đẹp cho kiến trúc, nghệ thuật và thể hiện sự trang nghiêm của cả công trình kiến trúc đền. Nhìn tổng quan, chúng ta có thể thấy được sự tài hoa về kỹ thuật xây dựng, về hội họa, tài ghép sành sứ của con người ở đây. Chủ đề trang trí với đền thường gắn liền với những quan niệm, tư tưởng và những ước mơ hoài vọng tốt đẹp của xã hội phong kiến Việt Nam nói riêng và cư dân văn minh nông nghiệp lúa nước phương Đông nói chung. Đó là các hình tượng như Tứ Linh (long, lân, quy, phụng), tứ thủ (cầm, kỳ, thi, họa), tứ quý (tùng, trúc, mai, sen) và nhiều biểu tượng cúc hóa long, mai hóa long, tùng hóa long...Đặc biệt, nhìn vào bố cục kiến trúc của đền được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao theo một trục dọc, cân đối và đăng đối, chính bố cục này đã làm thêm phần trang nghiêm của đền Liễu Hạnh công chúa.
Đền Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang nằm trong cụm di tích-danh thắng Đèo Ngang (Hoành Sơn Quan, lũy Hoàn Vương, đình Vĩnh Sơn, Hòn La...). Đây là cụm di tích còn tiềm ẩn nhiều khả năng trong việc phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhà.
Đền thờ Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang là điểm thờ Mẫu ở Quảng Bình và trở thành một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa cộng đồng đối với nhân dân Quảng Bình nói riêng và nhân dân cả nước nói chung.
Đền thờ Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang là điểm cuối phía Nam còn nguyên vẹn về kiến trúc đền thờ Mẫu Liễu Hạnh như tục thờ Mẫu ở Phủ Giầy. Đền thờ như một minh chứng cho sự tích Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang, trong truyền thuyết dân gian đã có từ lâu đời. Chính vì vậy, di tích đền Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang, xét về quy mô, phong cách và vị trí của nó trong lịch sử phát triển của dòng tín ngưỡng dân gian Việt rất xứng đáng để chúng ta trân trọng, bảo tồn.

Theo: quangbinhtourism.vn

Mẹ Suốt

- by Ana · - 0 Comments



Tượng đài Mẹ Suốt bên bờ sông Nhật Lệ - TP Đồng Hới
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quảng Bình có vị trí đặc biệt quan trọng, là tuyến đầu của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, được coi là ’’yết hầu ’’ của mạch máu giao thông chi viện miền Nam.
Đồng Hới là một trong những nơi đầu tiên ở Quảng Bình đế quốc Mỹ chọn làm trọng điểm đánh phá với ý đồ nhằm làm nhụt ý chí xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam của nhân dân ta cũng như hòng hủy diệt thị xã xinh đẹp bên bờ sông Nhật Lệ.
Mẹ Nguyễn Thị Suốt sinh ra và lớn lên ở làng vạn chài, Phú Mỹ nay là Mỹ Cảnh, xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới. Từ thuở nhỏ, mẹ phải đi ở nuôi thân, cuộc đời mẹ hết đi ở cho nhà này đến đi ở cho nhà khác mà vẫn cực khổ quanh năm, đến khi tuổi xuân đi qua lúc nào không biết, tóc đã điểm sương, mẹ mới kết bạn đời với ông Trần Bệu ở làng Trung Bính.
Cách mạng tháng 8 thành công, rồi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hòa bình lập lại chưa được bao lâu thì giặc Mỹ gây ra cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, lúc này mẹ đã 60 tuổi. Theo tiếng gọi của quê hương đất nước khi có giặc ngoại xâm, mẹ xung phong nhận công việc chèo đò ngang qua sông Nhật Lệ. Một trong ba nhiệm vụ của tổ: ’’Phòng cháy chữa cháy, cấp cứu tải thương và giao thông đi lại". Ngày 7-2-1965, tức ngày mồng 6 Tết Ất Tị, giặc Mỹ đã huy động 160 lần chiếc máy bay phản lực hiện đại ồ ạt tấn công đánh phá các vùng lân cận và thị xã Đồng Hới. Đây là trận oanh tạc lớn mở màn cho cuộc chiến tranh leo thang phá hoại của giặc Mỹ đối với nhân dân ta nói chung, Đồng Hới nói riêng. Biến căm thù thành hành động cách mạng, cả thị xã Đồng Hới, cả làng cát nhỏ bé Bảo Ninh đã dũng cảm kiên cường chiến đấu với máy bay Mỹ. Trên sông Nhật Lệ, đạn bom của máy bay Mỹ dội xuống đày đặc, những cột nước đen ngòm tung lên dữ dội, mẹ Nguyễn Thị Suốt vẫn một mình chèo đò chở bộ đội qua sông, bất chấp cả những lần máy bay bổ nhào, phóng róc két, bắn đạn 20 ly ngăn chặn, thuyền mẹ vẫn qua lại nối đôi bờ, vận chuyển đạn ra tàu chiến của hải quân, đồng thời làm nhiệm vụ đảm bảo giữ vững đường dây liên lạc giữa Đồng Hới với Bảo Ninh. Sau trận chiến ác liệt ấy, đò của mẹ vẫn tiếp tục nhiệm vụ đưa đón cán bộ, bộ đội, nhân dân qua sông trong những năm tháng đánh Mỹ đầy cam go ác liệt. Ngày mồng 1-1-1967, mẹ được tặng danh hiệu Anh hùng lao động với chiến công hiển hách phục vụ công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mẹ đã hy sinh ngày 11-10-1968 trong khi làm nhiệm vụ.
Mẹ Suốt đã góp phần xứng đáng của mình trong chiến công chung của quân dân Đồng Hới. Hình ảnh mẹ sống mãi trong lòng nhân dân Quảng Bình và nhân dân cả nước. Mẹ là biểu tượng của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là tấm gương tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam anh hùng. Chiến công của mẹ gắn liền với bến đò ngang thuộc địa phận thôn Trung Bính, xã Bảo Ninh qua Hải Đình, Đồng Hới. Cái tên "Bến đò Mẹ Suốt" rất đỗi thân thương, gần gũi, rất đỗi tự hào. Ngày nay tượng đài Mẹ Suốt đã được dựng lên trong công viên tả ngạn bờ sông Nhật Lệ phường Hải Đình - Đồng Hới. Đây là địa chỉ tham quan du lịch, nơi sinh hoạt văn hóa của nhân dân thành phố và du khách gần xa khi đến với Quảng Bình bày tỏ lòng ngưỡng mộ, cảm kích trước một bà mẹ bình thường nhưng rất đỗi anh hùng.

4 thg 4, 2013

Lịch sử về dòng Kiến Giang Quảng Bình

4 thg 4, 2013 - by Ana · - 0 Comments

Lịch sử Quảng Bình - Mỗi chúng ta đều rất tự hào và tri ân dòng Kiến Giang. “Sông lụa, sông thơ, dòng sữa mẹ…”, tất tất những gì trìu mến nhất ta dành cho Kiến Giang. Thời đi học tôi nhớ mãi câu thơ mở đầu của thầy môn địa lý về các dòng sông: “Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng; Tất cả trả lời, sinh bên một dòng sông; Chẳng phải sông Hồng, sông Mã, sông Chu hay Cửu Long uốn chín đầu rồng; Thì cũng phải dăm ba mái chèo quẩy mạnh…” Kiến Giang đã tắm gội cho lớp lớp con cái Lệ Thủy, để đi xa luôn nhớ về. Riêng tôi, đã nhiều lần ngược dòng tìm về ngọn nguồn con sông ấy, lần dở từng trang sử về nó để tri ân dòng sữa đã nuôi tôi.
http://www.avala.vn/data/ckf/images/songgianh1.jpg
Sông Kiến Giang buổi nắng chiều

Kiến Giang xưa có tên gọi là Bình Giang. Bình Giang là hợp lưu của 4 con rào chính có tên là Rào Nậy, Rào Con, Rào Sen và Rào Mỹ Sơn. Mỗi con có một dấu ấn riêng của nó mà chẳng con nào giống con nào.
Rào Nậy có ngọn nguồn từ dãy Trường Sơn, tận nơi xa biên giới Việt Lào có ngon núi tên gọi là Vít Thù Lù. Len lỏi giữa chốn đại ngàn, chảy dốc xuống theo hướng Tây sang Đông, qua bao ghềnh thác. Có những con thác nghe tên là gợi nhớ bao nhiêu kỷ niệm. Như Thác Tre. Mỗi bận giêng hai đói kém, dân 5 xã vùng giữa Liên, Xuân, Phong, An, Lộc chèo đò lên miền thượng mua sắn, mỗi lần qua Thác Tre là nỗi kinh hoàng. Đò chìm, có người đã bỏ mạng ở đó, củ sắn ngâm bẻ ra thâm nâu như máu đọng. Rào nậy chảy về xuôi đột nhiên gặp núi An Sinh chắn lại, xoáy thành vực thẳm gọi là Trốoc Vực. Trốoc Vực với vách đá dựng đứng, quanh năm gió quẩn thâm u với bao truyền thuyết, giai thoại kỳ bí. Người xưa nói rằng ở đó vực không có đáy. Thả một quả bưởi xuống, hôm sau thấy nổi lên ở tận Bàu Sen. Xưa dân làng Quy Hậu có dựng đền thờ Cao Biền ở đỉnh núi. Thuyền bè qua đó đều phải thắp hương khấn bái, nếu không thuyền chỉ chạy vòng quanh, bị hút chìm xuống xoáy vực. Lại có giai thoại kể rằng, xưa vua Hàm Nghi xuất bôn, khi nghe tin Kinh đô thất thủ đã bỏ bớt một số vàng xuống trốoc vực. Tất cả chỉ là truyền thuyết. Nhưng có điểm thực là “Ô châu cận lục” của Dương Văn An viết rằng “Vực ở ngả ba nguồn Thổ Rí, huyện Nhật Lệ. Trên thì mặt nước mở rộng, dưới thì sắc nước trong xanh. Trong thì suốt đáy, sâu thì vô cùng. Tương truyền dưới có thủy phủ, những khi mây mù, mưa ám, thuyền cá đi lại vẫn nghe có tiếng trống kèn. Hàng năm cứ đầu xuân đảo vũ, mở hội đua thuyền, liền được mưa ngay”. Vậy là, tập quán bơi đua của xứ Lệ đã có ít nhất là 500 năm rồi. Các cụ nói rằng, thượng tiêu xưa ở tận Trốc Vực, chớ không phải chỗ cồn nổi bây giờ. Mà bơi xưa là “3 vòng, 6 tao” cơ. Rào Nậy còn một bí ẩn nữa, cứ ai đi xa, ở vùng rừng thiêng, nước độc, bị ngã nước, ghẻ lở đầy thân, về quê tắm nước Rào Nậy ba lần là hết sạch. Đó là sự thật mà mãi sau này người Pháp mới tìm ra. Đó là nhờ nguồn nước giầu chất lưu huỳnh của nước khoáng Bang. Trong chiến tranh chống Mỹ, đoàn 559 đã lấy đây làm viện điều dưỡng cho bộ đội, có cho ngăn một đoạn suối nước nóng để tắm chữa bệnh. Chỗ ấy giờ vẫn còn.

Rào Con có ngọn nguồn từ vùng núi Ba Kiềng, Ba Núc của mạch núi chạy từ Trường sơn ra biển. Đến núi An Sinh, Rào Con hợp lưu với Rào Nậy, tạo nên thượng nguồn của Bình Giang. Rào con có điểm lạ thú vị là nắng đục, mưa trong. Nếu có dịp đứng trên mõm núi An Sinh mà quan sát, bạn có thể thấy mùa nam nắng cho đến trước tiết tiểu mãn, nước Rào Nậy chảy xuống trong xanh nhưng Rào Con đổ ra đục ngầu. Trước khi vào Trốoc Vực sông có hai màu cảm tưởng như hai dãi lụa vàng và xanh quấn cạnh nhau. May thay, nguồn Rào Con có lưu lượng nhỏ nên Bình Giang vẫn xanh.Rào Con, nghe thì khiêm tốn vậy nhưng dưới con mắt của Cao Biền nó là Bạch Hổ trong thế đất địa linh cho Âm trạch núi An Mã. Trong “Ô châu cận lục” phần ghi về ĐỊA LÝ có nhắc đến các huyệt đạo của xứ Tân Bình, Thuận Hóa. Trong đó có ghi Huyện Nha Nghi (tức Lệ Thủy) có 80 huyệt. An mã là một trong những chính huyệt. Ở đó có mộ chí của Hoàng Hối Khanh, bậc danh thần thời Trần, Mạc, Tri Phủ đầu tiên của Nha Nghi. Cạnh đó là mộ chí của Nguyễn Hữu Cảnh, danh tướng thời nhà Nguyễn, người có công mở đất Phương Nam. Và sau này là mộ chí của ông Ngô Đình Dinh, ông nội Ngô Đình Diệm.Ngôi mộ mà xung quanh nó còn phảng phất bao truyền thuyết huyền bí.
Rào Sen, phát nguồn từ Đầm Sen rộng hang trăm héc ta thuộc địa phận làng Thủy Liên. Đầm được kiến tạo tự nhiên do nhiều nguồn suối nhỏ chảy từ núi Trầm Kê. Mỗi mùa hạ về sen nở bát ngát, Đầm Sen tựa chốn bồng lai tiên cảnh. Xưa đây là nguồn sống của làng Thủy Liên Nam. Bốn mùa cò, vạc, le le, tôm, cá. Cá Rào Sen nhiều và ngon nhất là chép. Cứ đến mùa mưa lũ, cá tràn bờ đi đẻ, cất rớ có khi được bốn, năm ký một mẻ. Và đặc biệt là hoa sen, hạt sen, ngó sen. Sen mênh mông, bát ngát như đồng sen Tháp Mười. Vào thời hợp tác hóa nông nghịêp. Huyện đã có chủ trương đắp bờ, vét hồ nuôi cá nhưng khi tát cạn thì dưới lòng hồ còn rất nhiều cây lớn chết đứng. Dấu hiệu của biến động kiến tạo địa chất đã chôn vùi một cánh rừng đại ngàn xuống đó. Đáng tiếc Đầm Sen không lộ ra cho chúng ta chiêm ngưỡng bởi nó khuất sau một dãy đồi thấp cạnh đường quốc lộ số 1, đối diện với Bàu Sen. Hơn nữa, bây giờ nó bé lại do con người khai hoang mở đất cày cấy. Cùng với đó, Rào Sen còn được bổ sung nguồn nước mát của Bàu Sen, một hiện tượng thiên nhiên kỳ thú của Lệ Thủy. Sách “Ô châu cận lục” của Dương Văn An miêu tả “Sắc nước như chàm, quanh năm vẫn đầy, mưa cũng không tràn, nắng cũng không cạn”. Bàu Sen thông với Đầm Sen qua một con suối nhỏ. Bàu Sen nằm ở làng Thủy Liêm Thượng, cạnh đường quốc lộ 1. Trên đường thiên lý Bắc Nam ai mà chẳng thấy. Xưa người ta ví Bàu Sen và Đầm sen là “Nhị Hồ” (Một thắng cảnh ở Hàng Châu, Trung Quốc).
Rào Mỹ Sơn (còn gọi là Rào Mỹ Thổ hay sông Dương Xá) chảy qua các làng Thái Xá, Mỹ Thổ, Liêm Thiện. Còn có hói Chợ Mai chảy từ Phù Thiết về đến Dương xá thì nhập với Rào Sen. Hai nguồn Rào Sen với Mỹ Sơn hợp lưu thành hói Quy Hậu chảy ra Bình Giang. Hói Quy Hậu xưa gọi là sông Ngô Giang. Cuối dòng sông ấy có thành Ninh Viễn, có chùa Kính Thiên. Thành Ninh Viễn nằm ở trên đất làng Uẩn Áo. Chùa Kính Thiên ở gần Chợ Trạm, Mỹ Thủy đều là những di tích lịch sử lâu đời, có tiếng của xứ Lệ.
Sông Bình Giang, khi đã hội đủ dòng nước mát của 4 con rào đó, chảy về đến Mũi Viết, làng Tiểu Phúc Lộc (Thượng Phong bây giờ) sông chia làm hai. Dòng chính chảy gữa hai làng Hà Thanh và Xuân Hồi rồi xuôi ra biển qua làng Hòa Luật, làng Liêm Luật. Vào năm Khải Đại thứ 2 (1404) Hồ Hán Thương đã cho đào kênh Sen (Liên Cảng) nối sông Bình Giang vào Thuận Hóa làm đường thủy. Sông đào nối Bình Giang qua Bàu Sen, từ Bàu Sen nối đến Hạ Cờ vào chợ huyện Quảng Trị. Nhưng do khi đào đến Quán Bụt thì cát cứ đùn lên, không đào được, đành bỏ. Ở đó, thời Lê có cho dựng Miếu Bảo Đài, theo dân gian xứ lệ đọc ngược là “Bãi Đào”. Tương truyền rằng, vào đầu thế kỷ XVII, một trận cuồng phong dữ dội đã thổi cát lấp kín cửa sông. Bình Giang mất lối ra biển, đành đổi dòng, tràn qua rào Mỹ Phước, hói Sao Vàng để chảy về Hạc Hải, hợp lưu với Sông Long Đại, tạo nên Nhật Lệ.
Chi lưu thứ hai của Bình Giang chảy từ Mũi Viết về An Lạc. Trên đường trẩy hội về Hạc Hải nó còn nhận thêm dòng nước mát của 5 con hói được coi là “Ngũ long giao hòa” của thế địa Linh làng Đại Phúc Lộc. Đó là hói Xuân Lai, hói Kỳ Cùng, hói Cừa, hói Ngay và hói Phú Thọ. Tương truyền rằng, thời nhà Mạc, Mạc Đăng Dung đã cho khơi thông, mở rộng dòng này và đặt tên là Kiến Giang. Kiến Giang về đến An Lạc thì như không muốn chảy nữa. Sông hẹp lại, ngoặt về hướng Đông, gặp rào Mỹ Phước, Sao Vàng rồi mới chịu xuôi Hạc Hải. Hạc Hải xưa trăm dòng, ngàn lạch, sóng to, giá cả, thuyền bè đi lại dễ lạc lối, mắc cạn. Thời trước, quan bản địa phải cho cắm cọc gỗ đánh dấu dòng chính, đêm đêm cho thắp đèn để dẫn lối thuyền bè.
Có lẽ, Bình Giang bị mất tên là do cửa sông bị lấp, không còn cái cửa cho riêng nó nữa. Lối giao thương đó dần mất cùng lịch sử. Chỉ còn Kiến Giang trầm mặc, chảy ngược dòng ra Bắc, hội nhập cùng Long Đại, Lệ Kỳ ra cửa Nhật lệ để mang tiếng là sông “Chướng Khúc”. Nói vậy thôi, sông cũng có tình có nghĩa, khi chảy về An Lạc, trước khi giã biệt xứ Lệ nó còn cố ngoái đầu tạo nên “Khút Bầu Ngược”. Ở đó, sông hẹp và rất cạn, thuyền bè khi đến đó mùa nào cũng ngược gió dù cho từ Lệ Thủy ra hay Đồng Hới vào.
Sông còn có tình như vậy, hỏi người xa quê có nhớ không
Theo Bác Đặng Ngọc Tuân

Nhà văn hóa tỉnh Quảng Bình bị cháy

- by Ana · - 0 Comments

Sáng nay ngày 4-4 bất ngờ Nhà văn hóa tỉnh Quảng Bình bị cháy lớn chưa rõ nguyên nhân, chúng tôi sẽ cập nhật thêm thông tin đầy đủ về vụ việc.

Nhà văn hóa tỉnh Quảng Bình bị cháy
Nhà văn hóa tỉnh Quảng Bình bị cháy
579744_584446181566396_1026161818_n
Nhà văn hóa tỉnh Quảng Bình bị cháy
Cập nhật thêm 1 số hình ảnh của đám cháy lấy từ Internet

2


Theo: qbvn.com


8 thg 1, 2011

Quảng Bình kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược

8 thg 1, 2011 - by Ana · - 0 Comments

Sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng (1954), quân và dân Quảng Bình cùng một lúc phải dồn sức giải quyết nhiều việc hết sức cấp bách. Xác định vị trí là tỉnh tuyến đầu miền Bắc, mọi hoạt động kinh tế, xã hội trên mảnh đất Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đối với quần chúng cách mạng ở miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ Quảng Bình bắt tay thực hiện công cuộc hàn gắn vết thương sau chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, thúc đẩy sự phát triển toàn diện cả về kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng.


Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, thực hiện chủ trương của Đảng đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng cả nước, Quảng Bình bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Lần đầu tiên ở Quảng Bình xuất hiện những xí nghiệp quốc doanh sản xuất và góp phần cung ứng hàng hóa tiêu dùng cho nhân dân. Các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục đều phát triển. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) ở Quảng Bình đang thực hiện có kết quả, thì ngày 4-8-1964 đế quốc Mỹ dựng nên ’’sự kiện vịnh Bắc Bộ", cho máy bay ném bom bắn phá một số nơi trên miền Bắc. Đến ngày 7-2-1965, Mỹ chính thức gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân trên toàn bộ lãnh thổ miền Bắc nước ta. Từ đó Quảng Bình phải chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế cho phù hợp với tình hình thời chiến.

Nắm bắt được những hoạt động quân sự của ta trên địa bàn phía Bắc giới tuyến quân sự, Mỹ - ngụy đã tiến hành những hoạt động gián điệp, biệt kích để dò la tình hình và phá hoại. Chỉ trong năm 1963, Mỹ - ngụy tung ra Quảng Bình hơn 10 toán gián điệp, biệt kích. Tất cả những đợt tung gián điệp, biệt kích xuống địa bàn Quảng Bình đều bị nhân dân phát hiện và làm thất bại, nhưng Mỹ - ngụy vẫn không chịu từ bỏ ý đồ xâm nhập, phá hoại miền Bắc. Từ ý đồ "tạo tiếng vang trong lòng đối phương’’ không thành chúng chuyển sang bí mật bắt cóc cán bộ, nhân dân... và đưa máy bay trinh sát điện tử U2 ra hoạt động trinh sát trên không phận của tỉnh. Đây là bước chuẩn bị leo thang cho việc đánh phá miền Bắc nói chung và Quảng Bình nói riêng sau này.

Từ ngày 8 đến 11 tháng 2-1964, đế quốc Mỹ cho nhiều tốp máy bay tiếp tục đánh phá dữ dội vào thị xã Đồng Hới và các vùng lân cận trong tỉnh. Phối hợp với lực lượng phòng không, quân và dân Quảng Bình đã đánh trả quyết liệt địch ngay từ đầu, bắn cháy, bắn rơi 13 máy bay. Chiến công oanh liệt của quân và dân Quảng Bình đã mở đầu hình thức chiến đấu hiệp đồng của lực lượng phòng không ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ).

Thực hiện ý đồ đưa cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, đêm 4-8-1964, Mỹ dựng lên ’’Sự kiện Vịnh Bắc bộ’’. Ngày 5-8-1964, thực hiện kế hoạch ’’Mũi tên xuyên’’, Mỹ cho máy bay thực hiện 3 đợt tấn công vào Cửa Hội (Vinh) và căn cứ hải quân ở cảng sông Gianh. Trong trận đầu này quân và dân Quảng Bình đã bắn rơi 3 chiếc máy bay và 1 chiếc khác bị hỏng.

Ngày 5-8-1964, Mỹ sử dụng hơn 60 máy bay trinh sát, máy bay tiêm kích, cường kích AD6, A3J, F4H... bất ngờ tiến công hầu hết các căn cứ, khu trú đậu và lực lượng tàu thuyền của hải quan trên tuyến ven biển miền Bắc từ Quảng Bình đến Quảng Ninh. Ở Quảng Bình, chúng đã đánh phá nhiều địa điểm như ở Cảng Gianh, cửa Roòn, Đèo Ngang, Cự Nẫm, nhưng với tinh thần chiến đấu anh dũng, gan dạ, quân và dân Quảng Bình đã bắn rơi 2 chiếc máy bay Mỹ, chiến thắng đó mở đầu trang sử chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của quân dân Quảng Bình.

Ngày 16-10-1964, Mỹ cho máy bay trinh sát dọc tuyến đường chiến lược 12A, bắn phá địa bàn huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa. Ngày 26-10-1964, máy bay Mỹ ném bom, bắn róckét xuống đồn Cha Lo. Ngày 18-11-1964, Mỹ phát hiện ra phía Tây Quảng Bình có hai tuyến đường chi viện quan trọng (đường 12 và đường 16), Mỹ cho hàng trăm lượt máy bay trút bom dữ đội xuống miền Tây Quảng Bình. Trong bom đạn ác liệt của kẻ thù, tiếng hô vang vọng của chính trị viên đại đội 3, tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân: ’’Nhằm thẳng quân thù mà bắn’’ đã trở thành khẩu hiệu bất tử, thể hiện tinh thần quyết đánh và quyết thắng của quân và dân ta trước cuộc chiến tranh phá hoại của kẻ thù.

Qua hàng loạt cuộc khiêu khích trên biển, trên không, trên bộ từ đầu tháng 8 đến tháng 11-1964, đế quốc Mỹ đã bộc lộ ý đồ chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn, với mục đích hủy diệt Quảng Bình, hủy diệt miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Ngày 7-2-1965, vịn cớ "Trả đũa việc quân giải phóng miền Nam tiến công căn cứ Mỹ ở Plâycu", đế quốc Mỹ cho 49 máy bay đậu ở ngoài khơi Đà Nẵng, tiến hành chiến dịch "Mũi lao lửa 1" đánh phá Quảng Bình, mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ra toàn miền Bắc. Địch tổ chức tập kích thành 2 đợt, nhưng đợt nào chúng cũng bị đánh trả quyết liệt. Trong trận đầu đọ sức với máy bay Mỹ đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu anh dũng. Hình ảnh mẹ Suốt chèo đò chở bộ đội qua sông, chiến sĩ dân quân Nguyễn Văn Tối và các em bé Bảo Ninh phối hợp chiến đấu, tiếp đạn cho tàu hải quân đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần dũng cảm đánh địch của bộ đội.
Như vậy là cùng với miền Bắc, Quảng Bình bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ với một khí thế khẩn trương, chủ động, tự tin và quyết chiến quyết thắng. Quảng Bình cùng với cả nước và vì cả nước quyết tâm đánh thắng trận đầu, giáng cho kẻ thù những đòn trừng trị thích đáng, là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa và hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam.

Ngày 2-3-1965, máy bay Mỹ chia thành nhiều tốp luồn lách theo các khe núi để ném bom, đánh phá. Tại cảng Gianh, lúc 14 giờ 47 phút ngày 2-3, đế quốc Mỹ cho 160 lần chiếc máy bay cất cánh từ tàu sân bay mở cuộc tiến công lớn vào căn cứ hải quân nhằm tiêu diệt các tàu chiến và cơ sở cầu cảng. Được các trận địa bắn máy bay bằng súng bộ binh của quân dân xã Quảng Phúc, Thanh Trạch phối hợp, bộ đội cảng Gianh đã đánh bại trận tập kích lớn của không quân Mỹ, bắn rơi, bắn cháy 3 máy bay địch. Kết quả trong trận này, quân và dân Quảng Bình bắn rơi 11 máy bay Mỹ. Đây là chiến thắng lớn nhất của Quảng Bình trong tháng đầu chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ...

Tính đến cuối năm 1965, Quảng Bình đã bắn rơi 141 máy bay Mỹ, dân quân tự vệ độc lập bắn rơi 11 chiếc. Thắng lợi đó đã khẳng định Đảng bộ, quân và dân Quảng Bình có quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ hy sinh, quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

Quảng Bình cũng là nơi bắn rơi chiếc máy bay thứ 100, 200, 300, 400, 500 và chiếc máy bay thứ 3000 trên miền Bắc. Với tinh thần "xe chưa qua nhà không tiếc", "đường chưa thông không tiếc máu xương", các lực lượng công binh, các chiến sĩ lái ca nô, thanh niên xung phong, dân công hoả tiến kể cả phụ nữ, thiếu niên đã dũng cảm phá bom lấp hố sữa đường, đưa phà, chèo đò cho bộ đội qua sông dưới làn bom đạn của địch. Tổng cộng cả hai lần chiến tranh phá hoại, quân và dân Quảng Bình đã bắn rơi 704 máy bay kể cả máy bay B52, F111, nhiều tên giặc lái bị bắt sống cùng với 86 tàu chiến bị bắn chìm và bắn cháy. Từ trong phong trào cách mạng sôi nổi ấy đã xuất hiện những đơn vị, cá nhân anh hùng, hàng nghìn chiến sĩ hai giỏi và có biết bao nhiêu tấm gương dũng cảm xả thân vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước như liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân, mẹ Suốt, Nguyễn Thị Kim Huế v.v... Những chiến công xuất sắc của quân và dân Quảng Bình trên mặt trận sản xuất và chiến đấu đã được Đảng và Chính phủ tặng thưởng nhiều Huân chương và nhiều danh hiệu cao quý. Có thể nói mảnh đất, con người Quảng Bình trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước đã thu hút sự chú ý, lòng kính phục của nhân dân cả nước và bè bạn khắp năm châu, xứng đáng với tên gọi Quảng Bình - Quê hương ’’2 giỏi’’.

Trong khi phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại vô cùng ác liệt của đế quốc Mỹ, vừa sản xuất vừa chiến đấu, nhân dân Quảng Bình vẫn làm tròn nghĩa vụ đối với cách mạng miền Nam. Với tinh thần ’’thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người’’ toàn tỉnh đã huy động đến mức tối đa mọi sức người sức của cho tiền tuyến. Ngoài ra, Quảng Bình còn gửi hàng vạn người con ưu tú của quê hương tới khắp các mặt trận tham gia chiến đấu cùng với hơn 3000 thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến làm nhiệm vụ tiếp vận tải thương. Suốt trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại, Quảng Bình đã bảo đảm thông suốt con đường từ Bắc vào Nam để vận chuyển một khối lượng to lớn sức người sức của cho chiến trường. Bên cạnh đó, mảnh đất Quảng Bình còn vinh dự được Quân ủy Trung ương chọn nơi để mở những con đường chiến lược quan trọng chi viện cho miền Nam. Chính thôn Phong Nha huyện Bố Trạch là điểm xuất phát của con đường mòn Hồ Chí Minh "huyền thoại" trên bộ. Cùng với các chi nhánh quan trọng của nó, như tuyến đường 15 chạy dọc Trường Sơn, đường 12B từ miền Tây Tuyên Hóa qua Sê-Pôn, đường 16 từ làng Ho Lệ Thủy qua bản Đông, đường 20 từ Phong Nha qua tỉnh Khăm Muộn... tạo thành một hệ thống con đường chiến lược vĩ đại, vượt đèo, băng suối và vươn dài gần bằng nửa vòng trái đất. Cảng Gianh cũng là nơi khởi đầu của con đường Hồ Chí Minh trên biển. Từ đơn vị quân sự vận tải đầu tiên ’’Tập đoàn đánh cá sông Gianh’’ các con tàu lần lượt vượt biển khơi đến với miền Nam ruột thịt.

Trong những năm 1973-1974, nhân dân Quảng Bình đã nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế. Đặc biệt về giao thông vận tải, nhiều bến cảng, tuyến đường, cầu cống được phục hồi và xây dựng lại, bảo đảm tăng nhanh tổng khối lượng hàng vận chuyển phục vụ chiến trường. Sự chi viện về vật chất, cán bộ của Quảng Bình dồn dập trong hai năm đó đã góp phần tạo thêm sức mạnh cho Trị Thiên - Huế và miền Nam giành toàn thắng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 lịch sử.

Có thể nói rằng, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Quảng Bình thực sự là vùng tuyến lửa của miền Bắc. Nếu tính gộp cả hai lần chiến tranh phá hoại, đế quốc Mỹ đã cho đủ các loại máy bay đánh vào Quảng Bình hơn 8 vạn lần (trong đó có 2.172 lần bằng máy bay chiến lược B.52) với hơn 1,5 triệu tấn bom cùng hàng chục vạn quả rốc-két, tên lửa và tàu chiến đã bắn hơn 14 vạn quả pháo. Bom đạn Mỹ đã giết hại 12.330 người, làm bị thương 18.434 người. Đốt cháy và đánh sập hàng vạn nóc nhà. Trong khói lửa chiến tranh hủy diệt của kẻ thù, Quảng Bình đã rất xứng đáng với sứ mệnh mà cả nước giao phó. Vừa là tiền tuyến của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam anh hùng.

Theo: quangbinh.gov.vn

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Bài viết về Quảng Bình

Quảng Bình kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược

 Trang sử vẻ vang Quảng Bình: Thời kỳ chống Pháp

Trang sử vẻ vang Quảng Bình: Thời kỳ chống Mỹ

Một góc nhìn về Làng Cao Lao Hạ xưa để suy ngẫm hôm nay

 Phong tục thờ cúng cộng đồng ở Cao Lao Hạ

Trang sử vẻ vang Quảng Bình: Thời kỳ chống Pháp

- by Ana · - 0 Comments

Chiến công trong chống Pháp:

- Quân dân tỉnh ta đã đánh 6.140 lớn nhỏ.

- Giết và bắt sống: 9.957 tên địch (trong đó có 1 trung tá,4 thiếu tá, 11 đại úy, 16 trung úy, thiếu úy, 10 đồn trưởng).

- Thu 8 máy vô tuyến điện, 732 súng các loại phá hỏng 118 xe quân sự, bắn bị thương 1 máy bay, phá hủy 3 ca-nô.

- Tuyên dương 3 anh hùng: Lâm Úy, Cao Thế Chiến, Trương Văn Ly.

w Những ngày lịch sử:

- Ngày 02-7-1945: Hội nghị cán bộ các cơ sở Đảng trong tỉnh họp ở chùa An Xá (Lệ Thủy) chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

- Ngày 04-7-1945: Hội nghị Việt Minh toàn tỉnh họp tại Trại sản xuất An Sinh (Trường Thủy - Lệ Thủy) triển khai nhiệm vụ khẩn cấp, thống nhất lực lượng, lấy tên "Việt Minh cô Tám", bầu Ban chấp hành Việt Minh 7 người và lập tờ báo "Vì nước’’.

- Đầu tháng 8-1945: Tỉnh bộ Việt Minh dời trụ sở từ Trung Lực - Mỹ Thổ về Võ Xá gần thị xã Đồng Hới.

- Ngày 17-8-1945: Hội nghị cán bộ Việt Minh họp tại Đồng Hới nghe đồng chí Tố Hữu truyền đạt lệnh của Trung ương về Tổng khởi nghĩa.

- Ngày 23-8-1945: Khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã Đồng Hới và các huyện trong tỉnh.

- Ngày 27-12-1945: Đội quân Nam tiến của Quảng Bình lên đường.

- Ngày 27-3-1947: Quân Pháp tấn công vào cửa Nhật Lệ, cửa Sông Gianh, 27-3 trở thành ngày Quảng Bình kháng chiến.

- Ngày 30-3-1947: Quân Pháp tiến đánh Lệ Thủy.

- Ngày 07-4-1947: Quân Pháp đánh ra Bố Trạch và Thổ Ngọa (Quảng Trạch).

- Ngày 10-4-1947: Quân Pháp đánh chiếm Minh Lệ, Tiên Lệ (Quảng Trạch), 15-4 chiếm Ba Đồn. Sau đó đánh làng Cự Nẫm.

- Ngày 17-4-1947: Quân Pháp đánh lên Minh Cầm (Tuyên Hóa)

- Ngày 25-4-1947: Pháp đánh vào làng Hòa Duyệt.(Bố Trạch)

- Ngày 13-7-1947: Chúng sát hại 45 bà con tản cư ở Thuận Đức (Đồng Hới), 24-7, chúng tấn công Rào Trù (Quảng Ninh) đốt phá bệnh viện, giết 30 người, 29-11 chúng tàn sát thảm khốc 300 người ở Mỹ Trạch Thượng (Mỹ Trạch Thượng), thiêu hủy 400 ngôi nhà.

- Ngày 12-8-1947: Tỉnh ủy mở hội nghị tại Thuận Đức bàn việc củng cố tổ chức Đảng và thống nhất lãnh đạo phong trào. Hội nghị có tính chất như một Đại hội. Đồng chí Nguyễn Văn Thanh được cử làm Quyền Bí thư. Các đồng chí Nguyễn Văn Thanh, Hồng Xích Tâm, Nguyễn Đình Chuyên trong Ban Thường vụ.

- Ngày 28-7-1947: Đồng chí Hoàng Văn Diệm được Ủy ban kháng chiến hành chính Khu IV quyết định cử làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Bình.

- Ngày 02-9-1949: Trung đoàn 18 được thành lập tại Còi (Tuyên Hóa) gồm 2 tiểu đoàn 274 và 436.

- Ngày 20-7-1948: Tổ dân quân do xã đội trưởng Nguyễn Đăng Thái xã Bắc Trạch (Bố Trạch) đã dùng mẹo "ôm hè" cướp được 3 khẩu súng của địch giữa ban ngày, mở đầu cho phong trào "ôm hè", tay không cướp súng giặc trong toàn tỉnh.

- Năm 1947: Tỉnh ta có các tờ báo "Thống nhất" cơ quan của Hội Liên Việt, tờ "Công giáo kháng chiến’’ cơ quan Giáo vận, tờ ’’Inforlnation" của cơ quan tuyên truyền địch vận.

- Ngày 06-01-1948: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất họp tại thôn Đại Hòa (Tuyên Hóa) có 56 đại biểu đại diện cho 983 đảng viên toàn tỉnh về dự. Đồng chí Nguyễn Văn Thanh được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

- Ngày 07-01-1948: Địch cho 100 quân nhảy dù xuống Bang đốt phá nhà cửa, giết 10 người và bắt đi 30 người.

- Tháng 6-1948: Ủy ban kháng chiến hành chính Khu IV phát động thi đua ái quốc, xây dựng nhiều làng chiến đấu như Cự Nẫm.

- Ngày 12-7-1948: Pháp huy động 500 bộ binh phối hợp với quân nhảy dù với 28 xe, 8 ca nô mở trận càn quét lớn ở vùng Ròn và làng Cảnh Dương. Dân quân diệt 11 tên Pháp (có một quan ba).

- Ngày 10-8-1948: Quân ta phục kích đánh địch tại Tiên Lương (Quảng Trạch) diệt 17 tên, có 14 tên Pháp. Ba tên Nguyễn Hữu Nhơn, tỉnh trưởng, Hoàng Toản, tỉnh phó, Tôn Thất Cảnh, huyện trưởng Quảng Trạch đã bị chết trong trận này.

- Ngày 14-5-1949: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 2 họp tại Kim Bảng (Minh Hóa), 90 đại biểu thay mặt cho 4.698 đảng viên đã về dự. Đồng chí Võ Thúc Đồng được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

- Ngày 15-7-1949: Được cuộc họp Tỉnh ủy bất thường quyết định làm ngày "Quảng Bình quật khởi’’ mở đầu tuần lễ ’’Tích cực cầm cự, chuẩn bị Tổng phản công’’ trên đất Quảng Bình. Tờ báo ’’Dân muốn’’ đổi thành tờ "Đánh mạnh’’.

- Ngày 16-7-1949: Dân quân Lộc Long (Quảng Ninh) đã phục kích địch từ đồn Xuân Dục về càn, nổ quả bom làm tên đồn trưởng bị thương nặng, nhiều tên khác bị thương, mở màn chiến dịch Quảng Bình quật khởi.

- Ngày 25-12-1949: Quân ta chống càn thắng lợi ở Thạch Xá (Lệ Thủy) diệt và làm bị thương 30 tên, bắt sống 51 tên, thu 60 súng, phá hủy 7 xe.

- Ngày 31-12-1949: Binh sĩ làm binh biến ở đồn Cổ Hiền (Quảng Ninh) diệt 3 sĩ quan Pháp.

- Ngày 27-02-1950: Chiến thắng Phú Trịch (Quảng Trạch) ta diệt 120 tên địch, bắt sống 10 tên, bắn cháy 4 ca nô.

- Tháng 5-1950: Chiến thắng Xuân Bồ, ta diệt 200 tên địch trên sông Kiến Giang. Xuất hiện gương anh hùng Lâm Úy.

- Ngày 25-5-1950: Công an thị xã diệt tên Lưu Đức Trừng, Trưởng ty an ninh của địch tại nhà riêng ở Đồng Hới.

- Ngày 02-7-1950: Tỉnh ủy mở hội nghị Đảng vụ bàn về dân chủ đấu tranh đoàn kết trong cán bộ, đảng viên.

- Ngày 21-10-1950: Trận lụt lịch sử gây hậu quả nghiêm trọng: 137 người chết, mất 50% tài sản nhà cửa, hàng ngàn gia súc, chủ yếu là ở Lệ Thủy.

- Ngày 11-8-1951: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 3 họp tại Bến Tiêm (chiến khu Quảng Ninh) có gần 200 đại biểu vùng tự do và địch hậu về dự. Đồng chí Trương Văn Địch được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

- Nháng 12-1951, trước áp lực của quân dân ta, địch buộc phải rút đồn Cự Nẫm và một số đồn bốt trong tỉnh.

- Ngày 15-02-1952: Đánh địch ở ngoài đồn Sen Hạ, diệt 12 tên, bắt sống 2 tên, thu 7 súng.

- Ngày 25-3-1952: Đánh địch càn quét vùng Vạn Lộc - Hoàn Lão, diệt 250 tên.

- Ngày 19-5-1952: Trung đoàn 95 san bằng đồn Sen Bàng, diệt và bắt toàn bộ quân địch, giải phóng 3.500 giáo dân.

- Ngày 31-5-1952: giải phóng Ba Đồn và Mỹ Hòa, diệt và làm bị thương 180 tên địch, thu 200 súng, 5 tấn đạn.

- Ngày 11-7-1952: Tiêu diệt lô cốt Lộc Đại (Quảng Ninh nay thuộc thị xã Đồng Hới).

- Đầu năm 1953: Diệt các đồn Võ Xá, Thạch Xá Hạ.

- Ngày 06-4-1953: Diệt các đồn Bình Phúc, Mỹ Phước.

- Ngày 20-3-1954: Ta diệt đồn Thượng Phong (Lệ Thủy).

- Ngày 07-5-1954: Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

- Ngày 02-7-1954: 6.000 dân Hoàn Lão (Bố Trạch) biểu tình chống địch đàn áp khủng bố, đòi thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ.

- Ngày 25-7-1954: Ta diệt gọn vị trí Bến Mốc (Lệ Thủy)

- Ngày 01-8-1954: Lệnh ngừng bắn được ban hành trong toàn tỉnh. Thành lập ủy ban quân chính do đồng chí Nguyễn Tư Thoan, Phó bí thư kiêm Chủ tịch.

- Từ 01 đến 06-8: Địch rút đồn Am Tiến, Vạn Lộc, Cồn Trụm, Lý Hòa, Trần Xá, Đức Phổ, Vĩnh Tuy, Lệ Kỳ, Tuy Lộc.

- Ngày 11-8: Địch rút Hoàn Lão, Chánh Hòa,

- Ngày 17-8: Địch rút khỏi Thanh Khê

- Ngày 18-8-1954: Tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi cửa biển Nhật Lệ. 15 giờ cùng ngày bộ đội và nhân dân ta vào tiếp quản thị xã.

- Ngày 20-8-1954: Ủy ban quân chính ra mắt.

- Ngày 02-9-1954: Mít tinh lớn tại thị xã chào mừng thắng lợi sau 9 năm kháng chiến gian khổ.


(Từ khi nổ súng kháng chiến cho đến khi kết thúc là 7 năm 4 tháng 23 ngày).

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Bài viết về Quảng Bình

Quảng Bình kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược

 Trang sử vẻ vang Quảng Bình: Thời kỳ chống Pháp

Trang sử vẻ vang Quảng Bình: Thời kỳ chống Mỹ

Một góc nhìn về Làng Cao Lao Hạ xưa để suy ngẫm hôm nay

 Phong tục thờ cúng cộng đồng ở Cao Lao Hạ

 

Trang sử vẻ vang Quảng Bình: Thời kỳ chống Mỹ

- by Ana · - 0 Comments

Chiến công trong chống Mỹ:


- Bắn cháy, bắn rơi 704 máy bay các loại của Mỹ

- Bắn cháy, bắn chìm 86 tàu chiến địch

- Đánh tan 41 toán gián điệp, biệt kích.

- Tiêu diệt và bắt sống 119 tên.

- Được tặng thưởng: - 1 Huân chương Độc lập hạng nhất

- 2 Huân chương Độc lập hạng nhì.

- 979 Huân chương các loại.

w Các anh hùng được tuyên dương:

Lực lượng vũ trang: Phạm Bá Hạt, Trần Thị Lý, Nguyễn Hữu Ngoãn, Nguyễn Thế Mật, Thái Văn A, Trịnh Xuân Bảng, Cao Lương Bằng, Hồ Phòm, Trần Phước Yên (liệt sĩ), Nguyễn Trọng Tấn (liệt sĩ), Phạm Văn Lái.

Anh hùng lao động của các ngành: Lê Văn Hiến, Trương Thị Diên, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Văn Tương, Hồ Bá Thọ, Nguyễn Thị Suốt, Nguyễn Ngọc Ánh, Nguyễn Thị Kim Huế, Võ Xuân Nở, Nguyễn Văn Số, Lê Trạm, Nguyễn Thị Khíu, Trần Chí Thành, Đinh Thị Thư Hiệp, Võ Xuân Khuể Ngô Mốc.

w Những ngày lịch sử:

- Ngày 16-6-1957: Bác Hồ vào thăm Quảng Bình, Vĩnh Linh

- Tháng 9-1957: Ta bắt gọn bọn phản động "Đảng Việt Hưng’’ hoạt động ở Quảng Trạch, Minh Hóa.

- Ngày 23-5-1960: Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 4 (vòng 1) họp tại Đồng Hới có 169 đại biểu tham gia.

- Ngày 26-5-1960: HTX Đại Phong được công nhận là lá cờ đầu nông nghiệp toàn miền Bắc.

- Ngày 13-3-1961: Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 4 (vòng 2) đồng chí Nguyễn Tư Thoan được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

- Ngày 02-6-1961: Máy bay Mỹ thả 3 tên biệt kích xuống vùng núi Cây Lim (Bố Trạch) bị ta tóm gọn.

- Ngày 14-6-1962: Biệt kích người nhái đột nhập vùng biển Ngư Thủy.

- Ngày 30-6-1962: 16 tên biệt kích đột nhập cửa sông Gianh. Ta bắt gọn cả toán.

- Ngày 02-01-1963: Toán biệt kích đột nhập Khe Lũy (Đèo Ngang) cả 8 tên đều bị tóm gọn.

- Ngày 06-01-1963: Năm tên biệt kích nhảy dù xuống Tân Kiều (Minh Hóa) đều bị bắt.

- Ngày 27-3-1963: Thành lập Báo Quảng Bình.

- Ngày 06-8-1963: Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 5 có 215 đại biểu tham gia. Đồng chí Nguyễn Tư Thoan được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy.

- Ngày 15-9-1963: Toán biệt kích 10 tên nhảy dù xuống Trường Sơn (Quảng Ninh) bị ta tóm gọn.

- Tháng 10-1963: Tên gián điệp Dương Chức từ miền Nam ra hoạt động bị dân quân Sen Thủy vây bắt.

- Năm 1963: Ngành văn hóa thông tin Quảng Bình được Bộ VHTT công nhận là đơn vị xuất sắc nhất miền Bắc.

- Ngày 27-3-1964: Tại hội nghị Chính trị đặc biệt, Hồ Chủ tịch kêu gọi "mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt’’

- Ngày 19-6-1964: 10 tên biệt kích nhảy dù xuống Cha Mác xóm Cục (Minh Hóa) ta bắt 9 tên, diệt 1 tên.

- Đêm 30-6-1964: 20 tên biệt kích tập kích vào cửa Nhật Lệ. Anh Trương Pháp dũng cảm hy sinh. Ta diệt 1 tên, làm bị thương 3 tên khác .

- Ngày 15-7-1964: 23 tên biệt kích đột nhập Nam Lãnh, Bắc Ròn. Ta diệt 1 tên, số còn lại bỏ chạy.

- Đêm 31-7-1964: Tàu Ma Đốc của Mỹ qua vùng biển Đèo Ngang, hòn Mát, Lạch Trường do thám.

- Đêm 03-8-1964: Tàu địch bắn phá cửa Ròn và khu vực Đèo Ngang.

- Ngày 04-8-1964: Máy bay Mỹ đánh phá cảng Gianh, Cửa Ròn.

- Ngày 05-8-1964: Quân dân vùng sông Gianh và Ròn bắn rơi 8 máy bay địch, mở đầu trang sử chiến thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở tỉnh ta.

- Ngày 18-11-1964: Đại đội 3, Nguyễn Viết Xuân (chính trị viên) trước lúc hy sinh, hô vang khẩu hiệu ’’Nhằm thẳng quần thù mà bắn".

- Đêm 22-1-1965: Tàu chiến Mỹ ngụy thả biệt kích và bắn vào Đồng Hới.

- Ngày 07-02-1965: (chủ nhật, mồng 6 tết) máy bay Mỹ đánh Đồng Hới. Ta bắn rơi 4 máy bay, phi công Đích-Xơn chết chìm dưới biển Nhân Trạch. Xuất hiện gương Lê Ngọc Lễ, mẹ Suốt.

- Tối 10-02-1965: 7.000 dân thị xã và 40 cơ quan cấp tỉnh sơ tán khỏi thị xã.

- Ngày 11-02-1965: 60 máy bay Mỹ đánh Đồng Hới và các vùng phụ cận. Quân dân ta bắn rơi 6 máy bay, bắt sống thiếu tá Su-mêch-cơ, phi công vũ trụ Mỹ,

- Ngày 02-3-1965: 160 lần chiếc máy bay Mỹ đánh phá cảng Gianh và nhiều nơi trong tỉnh. Quân dân ta bắn rơi 11 máy bay Mỹ. Đây là chiến thắng giòn dã nhất.

- Ngày 25-3-1965: Quân dân vùng miền Tây (có đường 12A) bắn cháy 7 máy bay. Xuất hiện gương Đinh Thị Thu Ngà.

- Ngày 31-3-1965: Hồ Chủ tịch tặng cờ thi đua luân lưu "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" cho lực lượng vũ trang tỉnh ta.

- Ngày 04-4-1965: Địch đánh phá cầu Dài và vùng quanh thị xã. Xuất hiện gương Trần Thị Lý, Nguyễn Văn Số (bưu điện).

- Ngày 17-4-1965: Đồn 111 bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 200 trên miền Bắc.

- Đêm 20-4-1965: Tổ tự vệ công trường Cẩm Ly (Lệ Thủy) do Trần Quốc Thản chỉ huy, bắn rơi chiếc AD6. Đây là chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi ban đêm bằng súng bộ binh đầu tiên trên miền Bắc.

- Ngày 28-4-1965: trận đánh ác liệt trên sông Gianh giữa 5 tàu hải quân ta và máy bay Mỹ. Quân dân ta đã chiến đấu dũng cảm. Xuất hiện gương Lê Văn Hiến (Quảng Phúc), Trương Thị Diên (Thanh Trạch).

- Ngày 24-6-1965: Tổ dân quân do Trần Văn Đương (Quảng Long) chỉ huy đã bắn rơi 1 chiếc F105 bằng súng trường. Tổ tự vệ Nguyễn Thị Thụ (12A - Minh Hóa) dùng súng trường hạ 1 A4D.

- Ngày 17-7-1965: Bác Hồ gửi thư khen quân dân tỉnh ta bắn rơi 100 máy bay Mỹ. ’’Chiến đấu giỏi, sản xuất cũng giỏi".

- Ngày 29-8-1965: Bác Hồ ký lệnh tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất cho quân dân Quảng Bình.

- Cuối năm 1965 tại Đại hội thi đua ở Xuân Hòa (Lệ Thủy), Tỉnh ủy phát động phong trào thi đua "hai giỏi".

- Ngày 11-01-1966: Ta tóm gọn toán biệt kích gồm 15 tên nhảy dù xuống khe Giữa (Hàm Nghi - Đình Phùng - Lệ Thủy).

- Tết Nguyên Đán 1966: Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào thăm tỉnh ta.

- Ngày 06-3-1966: 10 tên biệt kích mang mật danh "Kern" nhảy dù xuống Hóa Sơn (Minh Hóa). Sau gần 20 ngày, ta truy lùng và diệt một số, số còn lại bắt sống.

- Tháng 6-1966: Bác gửi thư khen quân dân tỉnh ta bắn rơi 200 máy bay Mỹ.

- Tháng 7-1966: Khẩu hiệu "Xe chưa qua nhà không tiếc" xuất hiện đầu tiên ở Võ Ninh, 37 ngôi nhà đã dỡ xuống lát đường cho 100 xe qua. Đức Trạch, Hải Trạch có trên 150 gia đình tình nguyện dỡ nhà lót đường cầu Lý Hòa.

- Ngày 03-7-1966: Địch đánh phá đường 12 vùng Y Leng (Minh Hóa). Xuất hiện gương đơn vị TNXP 759 và Nguyễn Thị Kim Huế.

- Ngày 17-7-1966: Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân chống Mỹ cứu nước, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. "Không có gì qúy hơn độc lập tự do".

- Kế hoạch K8, K10 bắt đầu từ tháng 8-1966: đã đưa 3 vạn cháu nhỏ và hơn l vạn bà con ra sơ tán ở các tỉnh phía Bắc.

- Ngày 22-9-1966: Tự vệ Xí nghiệp In bắn rơi một máy bay Mỹ.

- Ngày 25-10-1966: Bộ đội địa phương ra quân, bắn cháy tàu khu trục hạm Men-phít của Mỹ.

- Ngày 01-3-1967: Đại đội 8 pháo binh bắn bị thương tuần dương hạm Can-be-ra.

- Ngày 17-5-1967: Pháo binh bộ đội địa phương ta bắn cháy khu trục hạm số 39 của Mỹ.

- Đêm 27-7-1967: Nguyễn Thị Triển chỉ huy tổ trực chiến Hưng Thủy bắn rơi RF4C, loại máy bay trinh sát chụp ảnh ban đêm. Chị Triển được Bác tặng chiếc đồng hồ đeo tay.

- Ngày 30-7-1967: Dân quân Dương Thủy bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 300 ở tỉnh ta.

- Ngày 10-11-1967: Dân quân gái Võ Ninh và Đại Phong bắn rơi 2 chiếc F4H, bắt sống 2 giặc lái.

- Ngày 21-11-1967: Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy thành lập.

- Ngày 06-12-1967: Cô Nguyễn Thị Xuân (Quảng Phúc) một mình bắn rơi F4H bằng đại liên.

- Ngày 17-12-1967: Đội lão quân Đức Ninh bắn rơi chiếc F4H ban đêm. Dân quân gái Xuân Ninh 17 ngày bắn rơi 2 chiếc F4H.

- Ngày 07-02-1968: Đội nữ pháo binh Ngư Thủy lập công đầu, bắn cháy tàu chiến số 013 của địch. 27-3-1968 lại bắn cháy một chiếc nữa.

- Ngày 26-02-1968: Đoàn thuyền Cảnh Dương gồm 10 chiếc chở vũ khí vào tiếp tế cho chiến trường Trị - Thiên xuất phát.

- Ngày 14-5-1968: Toán biệt kích nhảy dù xuống làng Mô, ta bắt sống 4 tên, diệt tên toán trưởng, tên toán phó bị đồng bọn ăn thịt.

- Ngày 16-5-1968: Đội nữ pháo binh Ngư Thủy bắn cháy chiếc tàu khu trục Mỹ thứ ba. Đơn vị được Bác gửi thư khen, được thưởng Huy hiệu của Người và kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 25, Đại đội được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang.

- Ngày 25-6-1968: Đại đội 367, dân quân Minh Hóa và đơn vị 280 bắn rơi l F4H. Đây là chiếc máy bay Mỹ thứ 3.000 bị bắn rơi trên miền Bắc.

- Ngày 27-6-1968: Bác Hồ gửi thư khen quân dân tỉnh ta bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 3.000.

- Ngày 03-8-1968: Quân dân tỉnh ta bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 500 trên bầu trời tỉnh ta.

- Ngày 08-8-1968: Bác Hồ gửi thư khen chiến công đó.

- Ngày 01-11-1968: Chiến dịch VT 5 vận chuyển hàng vào chiến trường miền Nam với lực lượng tham gia đông đảo nhất của toàn dân.

- Ngày 21-02-1969: Đại hội tổng kết phong trào thi đua "hai giỏi" tổ chức tại Ba Rền, có 1200 đại biểu tham gia.

- Đầu năm 1969: Khởi công xây dựng công trình thủy lợi Rào Nan có 1.035 người tham gia.

- Ngày 07-5-1969: Quân dân ta bắn rơi tại chỗ 2 chiếc F105 được Bộ Tổng Tư lệnh gửi điện khen.

- Đầu năm 1970: Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào thăm tỉnh ta.

- Ngày 25-11-1971: Quân dân ta bắn rơi 7 máy bay, bắt sống 4 giặc lái.

- Mồng 2 Tết Nhâm Tý (1972) quân dân Lệ Thủy và đơn vị tên lửa 274 bắn rơi 4 máy bay. Dân quân Mai Thủy bắt sống 2 giặc lái.

- Ngày 05-4-1972: Mỹ cho tàu tuần dương và khu trục bắn 500 quả đạn pháo vào khu vực Đồng Hới, Bố Trạch.

- Ngày 06-4-1972: Mỹ cho máy bay, tàu chiến đánh phá nhiều nơi, gây lại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai.

- Ngày 08-4-1972: Đại đội 8 bộ đội địa phương bắn cháy 1 tàu chiến Mỹ.

- Ngày 09-4-1972: Đại đội 10 bắn cháy cả tốp 3 tàu địch; đại đội 48 bắn cháy 1 tàu địch.

- Ngày 09-4-1972: Hai chiếc MIG l7 từ sân bay dã chiến Khe Gát (Bố Trạch) đã ném bom đánh hỏng nặng 2 khu trục hạm của Mỹ cách bờ Nhật Lệ 16 km.

- Ngày 20-4-1972: quân dân Minh Hóa đã bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 3.500 trên miền Bắc được Chủ tịch Tôn Đức Thắng gửi thư khen.

- Ngày 23-4-1972: Tiểu đoàn 9 pháo cao xạ bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Tên trung tá giặc lái bị bắt sống tại Nông trường việt Trung.

- Ngày 29-5-1972: Tàu Hồng Kỳ 150 vào vịnh Hòn La chở 6.000 tấn gạo của nhân dân Trung Quốc vào giúp ta.

- Tháng 6-1972: Đại đội 8 bắn cháy 3 tàu chiến địch bên cửa Gianh.

- Ngày 08-6-1972: Máy bay B.52 đánh xã Hoàn Trạch trong lúc bị lũ, làm chết 57 người. Đánh bệnh viện Đồng Hới làm chết 33 bệnh nhân và nhân viên y tế.

- Ngày 27-6-1972: Tàu Hồng Kỳ 152 chở tiếp 6.000. tấn gạo đã đóng sẵn 4 lớp bao bì đến Hòn La. .

- Ngày 22-9-1972: Tàu Hồng Kỳ 162A chở vào Hòn La chuyến gạo thứ ba.

- Ngày 01-12-1972: Tàu Hồng Kỳ 162B chở 6.000 tấn gạo cuối cùng vào Hòn La.

- Ngày 02-8-1972: Dân quân Mai Hóa bắn cháy l máy bay Mỹ.

- Ngày 04-8-1972: Dân quân Lý Ninh bắn cháy 1 máy bay.

- Ngày 21-8-1972: Bộ đội tên lửa bắn cháy l B.52 trên bầu trời tỉnh ta.

- Đêm 29-8-1972: Máy bay B52 đánh vào Xí nghiệp In làm chết 3 người, bị thương 3.

- Ngày 07-11-1972: Dân quân Phú Trạch (Bố Trạch) bắn rơi chiếc F111A (cánh cụp cánh xòe) đầu tiên trên miền Bắc.

- Ngày 21-11-1972: Đơn vị 359 và dân quân Phú Thủy (Lệ Thủy) lại bắn rơi 1 chiếc F111A.

- Ngày 01-12-1972: Dân quân Lệ Thủy và đơn vị 214 bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 700 trên bầu trời tỉnh ta.

- Ngày 02-01-1973: B52 đánh vào xã Quảng Sơn (Quảng Trạch) làm chết l05 người, bị thương 109 người, 150 nóc nhà bị phá hủy. Đây là trận thảm sát nặng nề nhất của giặc Mỹ đối với nhân dân tỉnh ta.

- Ngày 13-01-1973: Mỹ ném bom sát hại 156 dân quân và công nhân đang làm nhiệm vụ tại nam phà Gianh (Thanh Trạch).

- Ngày 17-1-1973: Dân quân Ngư Thủy bắn rơi l máy bay không người lái của Mỹ. Đây là chiếc thứ 704 của Mỹ bị bắn rơi ở tỉnh ta và là chiếc thứ 4.181 bị bắn rơi trên miền Bắc.

- Ngày 27-01-1973: Ký kết hiệp định Pa-ri

- Ngày 17-6-1974: Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 6 họp tại Đồng Hới, có 300 đại biểu. Đồng chí Cổ Kim Thành được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

- Ngày 30-4-1975: Giải phóng hoàn toàn Miền nam

- Ngày 16-6-1976: Hợp nhất tỉnh Bình Trị Thiên

- Ngày 01-7-1989: Quảng Bình trở về địa giới cũ.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Bài viết về Quảng Bình

Quảng Bình kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược

 Trang sử vẻ vang Quảng Bình: Thời kỳ chống Pháp

Trang sử vẻ vang Quảng Bình: Thời kỳ chống Mỹ

Một góc nhìn về Làng Cao Lao Hạ xưa để suy ngẫm hôm nay

 Phong tục thờ cúng cộng đồng ở Cao Lao Hạ

Một góc nhìn về Làng Cao Lao Hạ xưa để suy ngẫm hôm nay

- by Ana · - 0 Comments

Nguyễn Danh Lợi là bố của nghệ sỹ Nguyễn Hoàng Anh; anh sống và làm việc ở Hà Nội nhưng năm nào cũng về quê ăn tết. Những trăn trở, mong muốn của anh đối với quê hương cũng là trăn trở của nhiều người con Cao Lao Hạ.

Từ nguồn cội xưa…

>Từ xa xưa lắm rồi, các Thủy Tổ làng Cao Lao Hạ đã khai canh trên một vùng đất có vị trí địa lý vô cùng thuận lợi cho việc an cư lạc nghiệp, gần núi, gần sông, có đồng bằng rộng lớn mà bằng phẳng. Qua nhiều thăng trầm lịch sử đến thời nhà Lý khoảng 1075, Lý Thường Kiệt đã có chính sách di dân vào Đàng Trong lập nghiệp, mở mang và củng cố bờ cõi, (1) có thể các cụ nhìn thấy vùng đất này rất linh thiêng, trời đất hội tụ, tựa thế lao phong (mũi lao bay lên trời cao) mạnh mẽ, hừng hực vút cao không gì ngăn cản được ở một chốn Đàng Trong mà đặt tên cho vùng đất này là Cao Lao (2) như thể Thăng Long (Rồng bay lên) đã được Vua Lý Thái Tổ tựa thế và thay tên thành Đại La thành Thăng Long của Hà Nội ngày nay.

Đặc biệt tại nơi đây một thời đã có một tiểu Vương quốc Chăm xây dựng một trung tâm chính trị (3). Dấu tích Thành cổ Chămpa bây giờ người ta gọi chệch sang Thiềng vẫn còn đã khẳng định nơi đây có vị trí địa lý rất đặc biệt. (4)

Cách đây chừng hơn 200 năm, làng Cao Lao Hạ được các cụ tiền bối quy hoạch phát triển nông thôn đã rất quy củ từ giao thông, thủy lợi đến nông - lâm - ngư –thương. Việc phân bố dân cư, đất ở, đất vườn rất hiện đại theo kiều đô thị - nhà vườn của Triều Nguyễn ở Huế, không vùng nông thôn nào có được. Phía trước cửa Đình Làng, sát bờ sông Gianh đã có thời được quy hoạch xây dựng một khu đô thị sầm uất, trên bến dưới thuyền theo kiểu Phố Hiến và Hội An, rất thuận tiện cho việc giao thương buôn bán của các thương gia Đàng Trong, Đàng Ngoài. Khu phố đó ngày nay vẫn còn dấu tích và dân làng gọi là Đồng Phố. Làng Cao Lao Hạ được phân bố thành 20 xóm trải ra như một con thuyền Rồng. Mỗi xóm có 2 dãy nhà, có đường lối ngang to và mương thoát nước riêng từ trước làng ra sau làng. Xóm 20 quy hoạch như một đầu rồng vươn cao vì vậy mà có tới 4 dãy nhà và tiến lên trước so với các xóm khác. Ngày nay do chiến tranh chống Mỹ ác liệt nên hầu hết xóm 20 chuyển lên các xóm trên và di dời vào Làng Rẫy gần hết.

Về quy hoạch giao thông, ngoài việc xóm nào cũng có lối đi riêng rộng chừng 3m thì Làng Cao Lao Hạ đặc biệt có đường Bạn, đường Làng và đường Quan đi dọc theo chiều dài của làng. Nghe tên đường đã thấy từ xưa làng đã có những luật lệ riêng, phân biệt quan - dân - khách rõ ràng, rất quy củ. Đường Quan là để quan đi, đường làng là để dân làng đi còn đường bạn có thể là dành cho những người khác vùng qua lại giao lưu, giao thương với làng. Bạn tức là bạn bè chăng? Đường bạn đi trước mặt làng ngõ ý “Tiền khách, hậu chủ”, tôn trọng và hiếu khách. Có 3 giếng làng nằm trên trục đường bạn cũng nhằm phục vụ dân sinh của làng nhưng cũng để quan khách qua lại rửa ráy trước khi vào làng.

Phía Nam trước làng là dãy Trường sơn, các cụ đặt tên riêng cho các đôộng như đôộng Lề Cù, đôộng Đá Bạc, đôộng Thầy Bói, đôộng Khỉ Đạo…  Các cụ khai canh, khai lâm xuyên rừng sâu, vượt Ba Trại đến tận sông Đào giáp các xã Phú Trạch, Hoàn Trạch, Cự Nậm…bây giờ. Cách đây chừng 10 đến 15 năm hàng ngàn héc ta rừng vẫn còn sở hữu của làng Cao Lao Hạ. Các bậc tiền bối đã có công khai hoang mở cõi từ thế hệ này đến thế hệ khác, biến rừng rậm hoang vu thành đồi - nương – trại kết hợp rừng già  giàu tài nguyên vô tận. Hàng trăm năm xưa dân làng khai thác gỗ, củi, hái lượm dược liệu, săn bắn chim muông, trồng màu, rèo trâu, rèo bò, lập trại đánh giặc, chạy giặc…Như vậy các Quan thần - Tổ Làng đã có chiến sách phát triển nông- lâm kết hợp, biết tận dụng khai thác “rừng vàng” và cả yếu tố quốc phòng nữa.

Sát làng hơn là những cánh đồng thẳng cánh cò bay, Bàu nọ sát Bàu kia, Cồn nọ nối tiếp Cồn kia như Bàu Hóc, Bàu Mật, Cồn Cui, Cồn Hà, Hói Đá…Những vùng lau, sậy, sác, bần đã được các cụ khởi thủy khai công thành các vùng trồng lúa, trồng màu phục vụ đời sống dân làng và cung cấp cho các vùng khác. Ngoài thu hoạch lúa màu các cụ đã tận dụng những con suối, con rạch để tạo ra chín khúc sông đào và được lưu truyền là “Cửu Khúc Long Khê” vừa để khai thác cá tôm tự nhiên, vừa để vận chuyển hàng hóa nhưng cũng để chế ngự thiên nhiên khi lũ lụt về, nước cứ thể mà chạy nhanh ra biển cả, tránh được lũ đổ về làng. Như vậy từ xa xưa các cụ đã biết quy hoạch nông nghiệp- thủy sản gắn với giao thông, thủy lợi.

Phía Bắc sau làng là sông Gianh soi bóng. Gần sát làng hơn có Hói rộng dài uốn lượn từ Hói Hạ lên tới gần hết làng, đi qua bến Phố. Hói được dân làng nạo vét từ con lạch tự nhiên thành luồng giao thông thủy, thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa Đàng Trong với Đàng Ngoài, liên kết với khu Phố sẩm uất. Hói mở cửa tự nhiên với sông Gianh vì vậy mà cá, tôm, cua, ghẹ cứ vào theo con nước, dân làng cứ thế mà hưởng lợi từ nguồn thủy sản tự nhiên đó. Nào là cá Mè Kẻ, cá Tìa, cá Đối, cá Ông, cá Ngạnh, tôm cua tha hồ mà khai thác. Người thì đào chuông, kẻ quây lại mà tát, người mò, người nơm, người đơm, người đắp trổ, về sau thì thả lưới, thả câu… Nơi đây có phong tục đi nơm rất sáng kiến, rất đặc biệt, mang tính cộng đồng rất cao, cá tôm khó thoát, nếu thoát được nơm của người này thì vướng vào nơm của người kia.

Về Văn hóa - Giáo dục cũng là một miền đất hiếm có. Các cụ từ Phương Bắc vào đây lập nghiệp muốn con cháu thấu hiểu lời khắc trên bia đầu tiên năm 1448 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy, cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo xây dựng nhân tài”. Từ xa xưa các cụ Quan Làng Cao Lao đã thấy được nhân tố con người là quan trọng bậc nhất nên đã động viên khích lệ con cháu dân làng học hành thi cử. Làng lập Hội Nhà Văn và Hội Nhà Võ là nơi để thờ cúng các vị Tổ và các thầy dạy văn, dạy võ của làng đồng thời Hội là nơi các cụ khoa bảng đèn sách thi thố, hội hè, dạy học cho con cháu. Làng có nhiều chính sách khuyến học động viên con cháu đỗ đạt cao như việc cấp đất hay tặng thưởng các sản vật. Nhờ coi trọng nhân tài và khuyến học mà từ lâu vùng đất này đã sinh ra nhiều nhà Khoa bảng, nhiều nhà binh làm quan trong nhiều triều đại. Làng Cao Lao Hạ trở thành làng Văn – làng Võ, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà quân sự, nhà khoa học, nhà quản lý nổi tiếng cho tới ngày hôm nay. Nếu ai có may mắn đọc được bài cúng Đình Trung Làng Cao Lao Hạ - (tư liệu lưu giữ tại Viện Hán Nôm) (5) thì mới thấy được truyền thống của làng khi phần “kính xin Tâu” và “kính mời” các vị Vua-Quan -Thần …có công mở cõi, xây dựng và bảo vệ dân làng bình yên… có tới 6 đến 7 trang giấy khổ A4 thì mới biết vĩ đại và tự hào đến nhường nào.

Trong giới nho sĩ tôn thờ Đạo Khổng quanh vùng có nhận xét cho rằng: Nho sĩ Cao Lao Hạ chăm nghiệp, hiếu học mà tiết kiệm. Cách đây hơn 450 năm, vào thời Mạc Phúc Nguyên trong sách Ô Châu cận lục ông Dương Văn An đã từng nói: ‘Người Cao Lao thích học văn chương, người Cao Lao giỏi làm ăn và giàu có. (6)

Qua nhiều thế hệ khác nhau làng Cao Lao Hạ đã có được một danh sách hùng hậu các vị anh hùng hào kiệt, văn võ song toàn, học hành đỗ đạt ở thế kỹ 19 và đầu thế kỹ 20 trong nhiều lĩnh vực như: ông Lưu Đức Bình phó bảng tri huyện, cử nhân thượng thư như ông Lưu Đức Xưng, các cử nhân như ông Lưu Đức Tuân, ông Lưu Trọng Kiến, ông Nguyễn Văn Khu, ông Nguyễn Khoan Hoàng, ông Đặng Văn Thái, ông Lưu Lượng, ông Lê Văn Giản…Có  tướng lĩnh hào kiệt như ông Lê Mô Khải (7)

Văn hóa tâm linh là nét độc đáo và đặc biệt bậc nhất.  Duy nhất trong cả nước Việt Nam tại làng Làng Cao Lao Hạ có tới 24 nhà thờ họ được xây dựng trước mặt làng. Mỗi họ tộc có một nhà thờ. Cứ vào tết nguyên đán và rằm tháng giêng là cả làng rộn vang tiếng trống tiếng chiêng, cờ đào lộng gió, con cháu các họ về cúng tổ tiên và bàn việc họ. Trong 24 nhà thờ họ thì Không hiểu vì sao mà riêng họ Nguyễn có tới 13 nhà thờ, chứng tỏ đã có thời Họ Nguyễn là một trong những họ khai hoang lập làng đầu tiên và phát triển bậc nhất nơi đây, và chắc chắn làng đã có thời vua quan Nhà Nguyễn dự định hoặc đống đô nơi đây nên việc quy hoạch phát triển nông thôn theo kiểu đô thị rất hiện đại. Trong bài phúng lễ đình làng được lưu truyền thì họ Nguyễn  được mời 63 vị quan tước “ về dự kỵ yên”, họ Lê Văn có 13 vị, họ Lê Quang có 11 vị , họ Lưu Quan có 5 vị; họ Lưu Làng có 3 vị; họ Lê Chiêu có 2 vị; họ Trần có 1 vị… Trong danh sách các ngài được làng “kỵ Yên” khai canh họ Nguyễn có ngài Đại tướng quân Nguyễn Văn Khai bên cạnh các ngài Lưu Văn Tiên hàm Đại tướng quân, ngài Triệu phong Lê Quang Lữ và các vị khai khẩn Lưu Văn, Lê Văn, Lê Quang, Lê Chiêu.(8)

Hai đầu làng có 2 chùa Trấn giống kiểu “Tứ Trấn” ở Thăng Long, ngăn chặn quỷ dữ, xoa đuổi tà ma tà quái, thờ cúng thần linh thổ địa và rất nhiều Miếu, Đền thờ tụng các vị anh hùng có công với làng. Chùa dưới cùng làng có thời người ta gọi là chùa Kẻ Đờng. Xét về vị trí thì chùa nằm sát dân làng Cao Lao Hạ, cách xa xóm trên cùng của Làng Kẻ Đờng tới 500 mét, vì vậy có thể xưa kia chùa này các cụ Tổ đã xây để “Trấn cho dân làng Cao Lao Hạ được bình yên. (9)

Làng có đình thờ Hoàng Làng, để tạ ơn các vị Hoàng Làng và cầu mong mưa thuận gió hòa, dân làng bình yên, con cháu đỗ đạt và hưng thịnh. Đình làng to đẹp uy nghi. Cho đến nay người ta vẫn chưa xác định chính xác Đình được xây dựng từ bao giờ. Theo một số tài liệu thì Đình có thể được xây dựng cách đây trên 200 năm, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Vua Nguyễn Phúc Ánh niên hiệu Gia Long cho quy hoạch dân cư nông thôn “Đàng Trong” thật phát triển để so sánh, đối trọng với “Đàng Ngoài” trong đó có cả việc cho xây đình thờ Hoàng Làng. Trong khi dân làng được quy hoạch nhà hướng cửa về phương Nam thì đình làng lại quay mặt về Phương bắc, một quy hoạch hay nói cách khác là một lựa chọn có chủ định đặc biệt cao về tâm linh, vừa để hứng lấy “lộc thủy” từ ngã ba sông lớn tụ về vừa là để thu nhận hương trời thần khí của Phương Bắc, nhưng cũng vừa là để Quan -Thần trông nom, trấn khử giặc Bắc, mang ấm áp, bình yên cho dân làng đang quay mặt về Phương Nam. Đặc biệt hơn cả có lẽ các cụ Tổ luôn hướng và nhớ về nơi cội nguồn gốc gác của mình trước khi dời quê từ Thanh- Nghệ vô đây. Do chiến tranh tàn phá nặng nề nên Đình làng chỉ còn lại hai cột cao to sừng sững cho đến ngày 15/12/2008 tức là ngày 19/11 năm Mậu Tý, dưới sự tổ chức và chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, bà con Làng Cao Lao Hạ đã đóng góp và xây dựng lại Đình Làng rất khang trang và uy nghi, thỏa lòng mong mỏi của bà con quê hương muốn được tôn vinh, tôn thờ các vị Hoàng Làng và để cầu mong cho sự phát triển phồn vinh muôn đời con cháu hôm nay và mai sau.

Nói về phong thủy thì đây là nơi gió mát, khí lành, nước, mạch trời phú, khe suối đổ về quanh năm, Đàng Côi có Cửa Nghè, Đàng Đưới có Vực Sanh. Ngoài Vực Sanh và Cửa Nghè làng lại có ba giếng khoáng mạch thiên nhiên ưu ái thuộc loại bậc nhất thiên hạ, đó là giếng Hung, giếng Kiệt và giếng Hóc. Đúng là thiên thời, địa lợi, nhân hòa, nơi hồn thiêng sông núi. Một địa danh linh kiệt. Rõ ràng đây không phải là một làng bình thường.

Đến Suy ngẫm nay…

Tinh thần đấu tranh xây dựng và bảo vệ quê hương nói riêng và Tổ quốc nói chung của các thế hệ dân làng hết sức oanh liệt đã được truyền từ đời này sang đời khác. Được như hôm nay ngoài yếu tố truyền thống thì một phần rất quan trọng là nhờ vào tổ tiên đã biết tìm chốn khai làng để định cư và lập nghiệp có thế đất trời bao la, thế thượng phong như mũi lao vút cao (Cao Lao), phong- thủy hòa hợp, nơi hồn thiêng sông núi.

Trước hết nói về nhân lực. Con cháu Làng Cao Lao Hạ có quyền tự hào và biết ơn các thế hệ ông cha mình trong mọi thời đại đều được quan tâm rèn luyện. Điều mà bất kỳ một dân tộc nào, một địa phương nào muốn phát triển thịnh vượng thì con người phải được quan tâm hàng đầu. Người ta hay gọi là nguồn lực con người, là kinh tế tri thức…Nói trong phạm vi hẹp hơn như đối với một doanh nghiệp muốn phát triển cũng vậy, ngoài tiềm lực tài chính, tiềm lực công nghệ… thì tiềm lực con người vẫn là số một. Truyền thống trọng người hiếu học để tài cao đức rộng, góp sức cho công cuộc đấu tranh, xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước của người Cao Lao Hạ xưa được con cháu phát huy trong thời đại Hồ Chí Minh rất đáng tự hào. Sự tiếp bước đó chứng minh trong các lĩnh vực phát triển của xã hội. Trong lĩnh vực Quân sự làng có các vị tướng lĩnh giữ các cương vị lãnh đạo cao cấp thời nay như các ông trung tướng Lê Văn Tri, trung tướng Lưu Bá Xảo, thiếu tướng Lưu Dương và có tới hàng chục cán bộ cấp tá đã và đang giữ các cương vị trọng trách trong quân đội và lực lượng vũ trang. Trong cương vị lãnh đạo chính quyền có ông Lưu Văn Đăng-nguyên phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình. Trong lĩnh vực khoa học được nhà nước phong hàm giáo sư như tiến sĩ Phan Đình Châu; Hàm phó giáo sư như tiến sĩ  Nguyễn Văn Tường và gần 20 tiến sĩ khoa học đã và đang giữ các cương vị trọng trách trong các cơ quan Đảng và nhà như các ông Lưu Đức Hồng-nguyên phó viện trưởng Viện Chiến Lược Phát triển-Bộ Kế hoạch và Đầu tư; ông Lưu Trọng Hồng-nguyên Cục trưởng Cục Điện Ảnh; ông Lưu Hữu Túy- nguyên Cục trưởng Cục Nông Trường; ông Lê Quang Diện- nguyên bí thư Đảng ủy, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch Kinh tế Điện; ông Lưu Đức Hải - Trưởng ban, Viện Chiến lược Phát Triển-Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Trong giới văn sĩ  nổi tiếng có nhà thơ Lưu trọng Lư. Giới điện ảnh có đạo diễn  Lưu Trọng Ninh. Các nghệ sĩ - giảng viên các Học viên Âm nhạc như anh Nguyễn Danh Trung, bà Nguyễn Thị Thủy, anh Nguyễn Hoàng Anh là con cháu ông Nguyễn Danh Thới. Các ông bà tiến sĩ đang là giảng viên các trường Đại học danh tiếng như ông Nguyễn Văn Tuấn, ông Lưu Hồng Việt, bà Nguyễn Thị Minh Lợi … Nhiều phi công thời chiến và thời bình như ông Lưu Văn Thái, ông Nguyễn Danh Sáng, anh Lưu Minh Hoàng và còn hơn 500 kỹ sư, cử nhân hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Rất nhiều nhân tài khác mà không thể thống kê hết được. Một số con em còn rất trẻ nhưng đã có thành tích học tập đặc biệt xuất sắc như em Lưu Đức Hiếu, con anh Lưu Đức Hải, hiện đang học tại một trường danh tiếng của Mỹ với suất học bổng toàn phần hơn hai trăm ngàn đôla Mỹ; Anh Lưu Anh Tiến con ông Lưu Văn Trọng - đội trưởng đội tuyển BKPro của Việt Nam đã đạt giải nhất trong giải vô địch Robocon châu Á. Nhiều con cháu đạt thành tích xuất sắc trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia được tuyển thẳng vào các trường Đại Học. Con em làng Cao Lao Hạ đang sinh sống, học tập và công tác tại nhiều nước trên thế giới cũng phát huy truyền thống của làng, đây cũng là nguồn lực dồi dào. Hãy xem danh sách học sinh giỏi của trường tiểu học và THCS tại làng trong nhũng năm qua thấy ngay là truyền thống hiếu học của làng Cao Lao Hạ không bao giờ dừng lại mà ngày càng được phát huy cao độ.

Về Địa linh thời nay thì vị thế của làng vẫn thiên thời địa lợi. Núi vẫn đứng trước mặt, sông vẫn chạy sau làng, đồng vẫn rộng, vẫn dài nhưng sao chưa phát huy hết lợi thế? Có người bảo quê mình vẫn “ngủ lâu” mà chưa thức giấc, có người lại bảo chưa “Phát”? Nói quê mình không có gì thay đổi thì không phải.  Nhìn tổng thể thì thấy trường học, trạm xá, nhà Văn Hóa ngày một khang trang. Đường sá cũng có thay đổi, một vài thôn đã rải được bê tông tuy đường đất vẫn là chủ yếu. Vực Sanh, Cửa Nghè đã được nhà nước đắp đập. Nội đồng hóa bê tông cho mương cũng được một vài đoạn. Đồng Trước đã chuyển đổi thành nhiều trang trại chăn nuôi cá-vịt xen kẽ trồng chuối, trồng lúa.  Đàng Sau biến thành khu nuôi tôm, nuôi cua… Nhưng nhìn số liệu thống kê 5 năm gần đây từ 2005 đến 2009 thì thấy nhiều chỉ tiêu khiêm tốn lắm. Thu ngân sách hàng năm chưa tới 2 tỷ đồng, năm sau không cao hơn năm trước là mấy. Số hộ nghèo còn nhiều, chiếm tới trên 11% tổng số hộ; đường giao thông xấu còn lớn, chiếm tới gần 30%...

Đứng dưới gốc độ của người đi xa mà nói chắc không khách quan và không sát lắm nhưng sự thật thì hàng trăm héc ta rừng xưa giàu tài nguyên do ông cha khai phá rất thân thuộc với dân làng nay không còn được hưởng. Đất Hói Hạ, Đất Đôồng Hà, Đồông Đưới  nhiều chỗ cũng không còn là của Làng mình nữa. Đất ngoài làng chỗ nào bán được thì đã bán hết.

Hói được chia ra hơn 150 hồ nuôi tôm lộn xôn, manh múi. Nuôi trồng thủy sản nhờ vào may rủi. Mười người nuôi tôm thì may ra có một thu hoạch có lời vì vậy mà hầu hết hồ bỏ hoang, rất lãng phí từ lâu. Chưa có cách khắc phục ô nhiệm môi trường cho đồng tôm thì nay đã xuất hiện kho phân phối xăng dầu đặt nơi đầu nguồn ngọn nước. Ai giám nói chắc là không gây ô nhiễm? Chưa nói đến phần tâm linh hồ đã chặn mất “long mạch” và bó chân của “Rồng” Đàng Sau, nơi đã từng được trời phú cho con Hói và ông cha vun đắp nảo vét. Những Đôồng, những Bàu và Cồn ở Đàng Trước cũng vậy. Nay đã bị chia nhỏ không còn là “Cửu khúc Long khê” nữa, mất đi những nét đẹp do thiên nhiên ban tặng và ông cha tạo dựng từ lâu đời. Lũ lụt về nước muốn dâng, muốn cuộn vào làng thì cứ việc. Ba giếng “khoáng mạch” bậc nhất thiên hạ cũng bị lấp chặn. Vậy là vô tình đã chặn hết “Long Mạch” và bó hết chân của “Rồng”.

(Bản đồ xã Hạ trạch-Tư Liệu chụp từ Google 2009)

Mong sao Hói được trả lại nguyên thủy như một con sông nhỏ để người nghèo thì bắt con cá ngạnh, đơm con tôm đất, lưới con cá đối, cá tìa. Người có điều kiện thì làm hồ nuôi tôm hai bên bờ Hói, rồi làm đường giao thông phục vụ khai thác và vận chuyển, làm mương nước ngọt để điều hòa độ mặn, vừa để lấy nước sạch khi cơn nước lên, tháo nước bẩn ra khi cơn nước xuống. Ở Đàng Trước cũng vậy, vét lại “Cửu Khúc”, hai bên bờ tha hồ mà lập trang trãi nuôi cá, nuôi vịt, trồng lúa, trồng màu để chừa con cá rô, cá tràu tự nhiên cho người nghèo không có điều kiện. Khôi phục lại Cồn Cui làm nơi khấn trời, cầu xin mưa thuận gió hòa như các Cụ Tổ xưa đã làm.

Đình làng thì đã được khôi phục nhưng Chùa-Miếu-Đền thì sao? Thời nay trên đất nước mình đâu đâu người ta cũng khôi phục lại các Chùa -Đền - Miếu- Mả. Quốc tổ thì có đền thờ các Vua Hùng ở Phú Thọ, đền thờ các nhà Lý, nhà tiền Lê tại Bái Đính-Ninh Bình, nhà Trần ở Quảng Ninh và Hà Nam, nhà Nguyễn ở Cung đình Huế… Các đền, chùa “Tứ Trấn” ở Thăng Long cũng được khôi phục từ lâu. Các làng xã trong cả nước cũng không ngừng tu bổ. Không còn ai cho là phát triển mê tín dị đoan nữa cả. Tại sao Quốc thể nhìn thấy tầm quan trọng mà khôi phục còn quê mình thì liệu bao giờ mới nghĩ tới?.

Trao đổi với các anh lãnh đạo xã bây giờ các anh cũng trăn trở lắm, cũng quyết tâm tìm cách làm cho dân giàu làng mạnh lắm. Nhiều việc bây giờ nói thì dễ nhưng khó tháo gỡ. Nhưng dù sao cũng rất mong làng ta có một tầm nhìn mới, tầm nhìn xa hơn mà quy hoạch lại một cách có bài bản để vừa phát huy được lợi thế của làng nơi hồn thiêng sông núi, nơi hào kiệt hùng anh, vừa bảo vệ được thành quả của ông cha mình gây dựng. Khi đã có đồng thuận, lòng thuận thì “Khó vạn lần dân liệu cũng xong” như Đình làng mà các anh đã và đang ngày đêm lo toan là một ví dụ. Dân làng ghi nhận những đóng góp của các anh lãnh đạo khóa này. Thay cho lời kết tôi muốn dẫn lời của độc giả Quang Linh khi nói về bài viết của anh Lưu Đức Hải trên trang Web caolaoha.com “Hỡi các con em quê mình cùng chung tay góp sức xây dựng để làng- xã ngày một vươn cao vươn xa như truyền thống quê mình. Một ngày không xa con em mình không chỉ biết về đất "Kỳ Phong-Long Khê", về Phố, về Thành, về Đình , về Khe Cù, Hói Hạ...về những câu chuyển cổ ngày xưa của làng mà còn thấy và nghe nhưng câu chuyện hào khí của ngày nay.

------------------------------------------------------

(1) “Đại việt sử ký toàn thư”. NXB Khoa học xã hội 1972, trang 237.

(2)Lời phỏng đoán và ví của người viết bài này.

(3)Theo tư liệu văn hóa Chăm -Hệ thống giao thương ven sông- Khám phá văn hóa miền Trung của baodulich.net.vn- dịch giả Lê Doanh.”Vương quốc Chăm-pa ở đất Việt có niên đại từ thế kỉ 2. Lãnh thổ Chăm-pa trải dài từ phía nam đèo Ngang thuộc tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Bình Thuận (vào khoảng giữa các vĩ độ 11° và 18° Bắc) ở Nam Trung Bộ. Theo các tài liệu lịch sử Trung Quốc, năm 192 - 193, do sự cai trị hà khắc của nhà Hán (206 TCN - 220 SCN), người dân huyện Tượng Lâm (Xiang Lin) đã nổi dậy tiêu diệt viên quan người Hán ở địa phương, giành chủ quyền và thiết lập nhà nước độc lập riêng, đặt tên là Lâm Âp (Lin-yi) (192 - 758), sau được biết đến với tên Hoàn Vương (Huan-Wang) (758 - 886), và tiếp sau là Chiêm Thành (Zhan Cheng) (886 - 1471). Tên Chiêm Thành (Zhan Cheng) có nguồn gốc từ chữ Champapura trong tiếng Phạn, là tên một thành phố của Chăm-pa. (Các) vương quốc Chăm-pa chủ yếu nằm trên một dải đất dài hơn 1000km dọc bờ biển miền Trung Việt Nam. Gần đây, các sử gia đã tranh luận quanh vấn đề vương quốc Chăm-pa phải chăng được hình thành từ nhiều tiểu quốc độc lập, tức là vương quốc này không phải là một thực thể chính trị thống nhất mà là một liên bang gồm nhiều tiểu vương quốc, mỗi tiểu vương quốc có một trung tâm chính trị riêng. Tham khảo: Bruce Lockhart và William Duiker, Historical Dictionary of Vietnam (Maryland: The Scarecrow Press, 2006), pp. 65-66. [Từ điển Lịch sử Việt Nam (Maryland: NXB Scarecrow, 2006), trang 65 - 66.]‘’.

(4)Tư liệu trongbài “Giới thiệu một số thanh cổ Chămpa tiêu biểu” …du Quang-binh, BEFEO, III,năm 1903,trang169-170mục sư Cadiere người Phápmiêu tả về thành Cao Lao Hạ  như sau: thành có“ hình vuông, mỗi bề chừng 200m, lũy đất dài chừng 5m ở chân, 2-3 m trên mặt, cao chừng 2m. Ở ngoài lũy có dãy đất rộng chừng 3m chạy chung quanh,… xung quanh thành có hào sâu nay đã hóa ruộng…hào rộng chừng 15m, cách lũy chừng6m...

(5)Theo tư liệu của Viện Hán Nôm.Bài văn “tế Đình Làng Cao Lao Hạ”. Căn cứ văn phong thể hiện (ở bài tế Đình Trung,bài văn tế này có lẽ được viết vào thời Lê- Trịnh, có tục lệ chồng tiền để mua danh vị như Bá hộ, Thiên hộ... các chức danh “nhưng”./.Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.535-547).

(6)Tư  liệu trong bài “Cao Lao Hạ - Miền đất Cửu Khúc Long Khê” của Lê Văn Sơn trích dẫn “Lịch sử Qảng Bình”

(7) Tư  liệu trong bài viết “Cao Lao Hạ - Chiều sâu văn hóa của một làng quê” của Lê Chiêu Phùng và Thế Tường.

 (8)  Số liệu theo bài viết “Đình Làng Cao Lao Hạ” của Cảnh Giang.

(9)  Lời phỏng đoán của người viết bài này.

Tác giả bài viết: Nguyễn Danh Lợi


Bài viết về Quảng Bình

Trang sử vẻ vang Quảng Bình: Thời kỳ chống Pháp

Trang sử vẻ vang Quảng Bình: Thời kỳ chống Mỹ

Phong tục thờ cúng cộng đồng ở Cao Lao Hạ


Blogroll

VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

Vanhoanguoiviet.com muốn gửi tới cho các bạn phong tục, tập quán,làng nghề, trang phục cũng như món ăn cổ truyền của người Việt từ xưa tới nay.

Được phát triển bởi Nguyễn Hiền|