Bài viết mới đăng
Trang chủ » Bạn đang xem tại danh mục: Người Chăm
Hiển thị các bài đăng có nhãn Người Chăm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Người Chăm. Hiển thị tất cả bài đăng
14 thg 3, 2014
Sau ngày cưới hai ngày ba đêm
người con trai không được phép về nhà cha mẹ ruột, sang ngày thứ ba
chàng trai sẽ đem lễ vật về nhà cha mẹ để thực hiện lễ tục trả áo.
Tháng 7 hè sang, những ngọn đồi ở Ninh Thuận phủ trọn một màu tím của
sắc hoa bằng lăng, người nông dân xong vụ đồng áng, đó cũng là lúc người
Chăm rộn ràng, náo nức chuẩn bị mùa cưới cho những đôi vợ chồng trẻ.
Ngày cưới diễn ra trong một ngày nhất định, cả xóm làng rềnh rang những
bản nhạc tình yêu đương nồng thắm.
Người Chăm sống theo chế độ mẫu hệ, ở đó con gái chịu tất cả những chi
phí cho việc cưới hỏi người chồng để về làm rể. Người chồng được cưới về
có trách nhiệm tạo dựng một gia đình hạnh phúc, chăm lo việc đồng áng,
dạy dỗ con cái và thực hiện những nghi lễ theo tín ngưỡng tôn giáo.
Để tiến đến một lễ cưới, những chàng trai và cô gái Chăm phải tìm hiểu
nhau trước, ngoài việc hợp nhau về tính cách, yêu thương nhau, yếu tố
quan hệ cộng đồng và muôn đăng hộ đối trong gia tộc, dòng họ vẫn mang
tính quyết định. Chàng trai Chăm luôn chủ động trong việc tìm người bạn
tình. Khi biết và có tình ý với cô gái, chàng trai sẽ đến nhà cô gái
chào hỏi, trò chuyện và tán tỉnh cho đến khi nào cô gái hiểu được tâm ý,
chấp nhận tình yêu của chàng trai đó. Lúc này gia đình nhà gái sẽ nhờ
người mai mối đến xin phép và chào hỏi gia đình chàng trai, để cho hai
gia đình cũng như hai bạn tình được qua lại tìm hiểu thêm về nhau.
| |
|
|
Khi đã chính thức quyết định lấy nhau, gia đình nhà cô gái sẽ chuẩn bị
lễ vật như bánh ít lá chuối, bánh bông lan truyền thống, nải chuối chín,
rượu và thịt hay khô cá đuối để mời họ hàng hai bên cùng thưởng thức.
Trưởng tộc họ nhà cô gái sẽ đại diện để xin gia đình và dòng họ nhà
chàng trai định ngày cưới chính thức cho đôi bạn tình.
Lễ cưới sẽ diễn ra vào ngày thứ 4 thượng tuần trăng trong các tháng 3,
6, 10, 11 (Chăm lịch) ứng với tháng 7, 9, 1, 2 (dương lịch). Rộn ràng và
đông đúc nhất là tháng 3 Chăm lịch (tháng 7 dương lịch), các xóm làng
trở nên náo nhiệt và đông vui từ sáng sớm cho đến tối mịt. Tiếng đờn ca
thánh thót hòa với tiếng bước chân của dòng người qua lại làm cho xóm
làng vốn bình yên trở nên rôm rả như một ngày hội.
Bắt đầu vào lúc 2h chiều ngày thứ 4, họ hàng bên nhà chàng trai sẽ
chuẩn bị một bộ áo quần mà chàng trai hay mặc thường ngày đựng trong một
cái túi, cha mẹ đỡ đầu (theo tục lệ), cùng cha mẹ chính thức và họ
hàng, bạn bè sẽ dẫn chàng trai với bộ đồ Chăm truyền thống đến nhà cô
gái. Trong một gian nhà cổ kính, cha mẹ đỡ đầu chàng trai sẽ thực hiện
những nghi lễ chào hỏi và chính thức trao tay chàng trai cho cô gái và
gia đình. Chàng trai với chiếc áo quạ truyền thống, đầu quấn khăn và cô
gái với chiếc áo dài xinh xắn, rạng rỡ nắm tay nhau bước ra chào hỏi gia
đình hai họ trong niềm vui vẻ, hạnh phúc, hân hoan.
|
|
|
Lễ vật hai vợ chồng đưa đến được bày ra để cúng tổ tiên. Ảnh: Putra Jatrai
|
Sau khi lễ cưới kết thúc, trong hai ngày ba đêm đầu chàng trai tuyệt
đối không được bước chân vào nhà cha mẹ của mình, cho đến ngày thứ ba
(nhằm ngày thứ 7 trong tuần) đôi vợ chồng trẻ sẽ đem bánh trái theo tục
lệ gồm bánh ít, bánh sakaya, bánh bông lan, bánh tét, chuối, rượu đến
nhà chàng trai để thực hiện nghi lễ “trả áo”.
Chàng trai sẽ mặc trên mình bộ áo quần mà cha mẹ đã sắm sửa chăm lo,
nuôi nấng từ lúc lọt lòng đến khi lấy vợ để quay lại làm lễ tục “trả
áo”. Người Chăm quan niệm người con trai khi lấy vợ sẽ không được mang
bất cứ thứ gì của gia đình đi dù là một bộ áo quần vì công lao dưỡng
dục, nuôi nấng của cha mẹ từ lúc sinh ra đến khi trưởng thành đã trọn
vẹn và đầy đủ. Khi lấy vợ chàng trai sẽ phải tự sắm sửa cho mình, đã
thực sự trưởng thành và tự chăm lo cho gia đình mới.
|
|
|
Cô dâu và chú rể Chăm cùng họ hàng hai bên. Ảnh: Putra Jatrai
|
Lễ vật mà hai vợ chồng trẻ đem đến sẽ được bày ra để dâng cúng và thỉnh
mời linh hồn tổ tiên về chứng giám và cầu xin cho đôi vợ chồng trẻ làm
ăn phát đạt, con đàn cháu đống và mãi mãi hạnh phúc bên nhau.
Sau khi kết thúc lễ “trả áo”, cha mẹ chàng trai sẽ sắm sửa một bộ lễ
vật để cầu chúc cho đôi vợ chồng gồm: một bộ nồi, niêu, chén, bát, đũa
với ý nghĩa từ nay hai vợ chồng sẽ tự túc cơm nước, ăn riêng, ở riêng;
một miếng vải với ý nghĩa hai vợ chồng tự may vá cho mình cái áo để sưởi
ấm cho nhau;một túi đậu phộng với ý nghĩa hai vợ chồng sẽ vượt qua mọi
khó khăn lo lắng và một trái dừa với ý nghĩa hai vợ chồng sẽ làm ăn phát
đạt, sung túc.
Lễ tục xong xuôi mọi người trong gia đình sẽ làm một bữa tiệc cùng nhau
ăn uống, chuyện trò, buổi chiều cùng ngày chàng trai về lại nhà cô gái
và ở rể bên nhà gái đến trọn đời.
Putra Jatrai
Sau khi lễ cưới theo tục lệ
của người Chăm, trong ba đêm đầu hai vợ chồng được nằm chung với nhau
nhưng tuyệt đối không được ân ái.
Người dân tộc Chăm sống ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ, tập trung nhiều ở
Ninh Thuận, Bình Thuận. Chế độ mẫu hệ vẫn còn lưu truyền trong văn hóa
sống của người Chăm từ xưa đến nay. Trong đó người con gái út thừa hưởng
tất cả tài sản do cha mẹ để lại và có trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng
khi cha mẹ về già hay thực hiện những nghi lễ tín ngưỡng khi cha mẹ qua
đời.
Người con trai Chăm được cha mẹ nuôi nấng đến tuổi cặp kê, lấy vợ, có
nghĩa vụ chăm sóc gia đình bên vợ và ở bên nhà vợ cho đến khi qua đời.
Đến lúc làm lễ nhập Kut, người con trai mới quay trở lại bên gia đình và
dòng họ mẹ.
![]() |
Một nghi lễ trong ngày cưới. Ảnh: Lamchieu.
|
Người Chăm còn lưu giữ nhiều tập tục đặc sắc, được lưu truyền đến ngày
nay. Những tập tục đã có luôn được người Chăm thực hiện và tuân theo một
cách nghiêm ngặt. Đó cũng là một trong những cách mà người xưa truyền
dạy nhằm phần nào răn đe hay giáo dục bản tính rất hay và hiệu quả,
trong đó có tập tục “cấm ân ái ba đêm đầu” sau khi cưới của đôi vợ chồng
người Chăm.
Đối với người Chăm, tuy rằng con trai được con gái cưới về nhà ở rể
nhưng người chủ động tìm kiếm và tán tỉnh phải là người con trai, cho
đến khi nào hai người yêu nhau, hiểu và hợp nhau rồi đi đến quyết định
lấy nhau thì khi ấy, người con gái mới thực hiện những tập tục cưới hỏi
theo truyền thống.
Lễ cưới của người Chăm phải diễn ra theo một tuần tự nhất định. Khi vừa
quen nhau cha mẹ nhà gái sẽ đến ra mắt xin được qua lại giữa hai gia
đình, sau một thời gian sẽ là lễ dặm hỏi để xin ngày cưới chính thức.
Cưới xong sẽ là lễ trả áo cho cha mẹ chàng trai, đến đây hai vợ chồng
mới chính thức là của nhau, được ân ái và sống với nhau đến trọn đời.
Cha mẹ đỡ đầu trao nhẫn cưới cho cô dâu và chú rể. Ảnh: Lamchieu.
|
Người Chăm rất khắt khe trong việc quan hệ ân ái trước hôn nhân. Cả hai
vợ chồng phải là người trong sạch, lễ cưới mới được tiến hành theo đúng
tục lệ. Nếu cô gái có thai trước khi cưới mà gia đình không hay biết,
vẫn tiến hành lễ cưới theo thông tục thì sẽ bị thần linh trách phạt,
suốt cuộc đời hai vợ chồng sẽ không làm ăn phát đạt và luôn xảy ra những
điều không hay.
Ong Inâ Amâ (cha mẹ đỡ đầu) là chủ nhân của hôn lễ. Trước khi cưới, cha
mẹ hai bên phải đem bánh trái đến nhà người thân trong gia đình họ hàng
để thỉnh họ làm Ong Inâ Amâ cho hôn lễ. Vào đầu giờ chiều ngày thứ 4
thượng tuần trăng của tháng 3, 6, 10, 11 (Chăm lịch) ứng với tháng 7, 9,
1, 2 (dương lịch), cha mẹ đỡ đầu của nhà trai sẽ dẫn chú rể đến nhà gái và trao tay chàng trai cho cô dâu, cha mẹ đỡ đầu nhà gái.
Lễ tục, trà nước và rượu thịt xong xuôi mọi người ra về sẽ còn lại cô
dâu, chú rể và cha mẹ đỡ đầu trong một gian nhà cổ kính của gia đình. Ở
đó cha mẹ đỡ đầu sẽ dặn cô dâu và chú rể trong ba đêm đầu tiên không
được ân ái với nhau, nếu phạm phải sẽ bị Po Yang (thần linh) trách phạt.
Ngoài việc dặn dò Ong Inâ Amâ còn trải hai cái chiếu dưới nền nhà, cái
trên đè lên cái dưới cách mép 20 cm. Ở giữa chiếu sẽ đặt một mâm quả
trầu, cau, hai vợ chồng sẽ ngủ dưới nền nhà trong ba đêm đầu tiên, mâm
quả sẽ đặt ở giữa hai vợ chồng.
Một bữa cơm thân mật của họ hàng hai bên khi mọi lễ tục diễn ra xong xuôi. Ảnh: Lamchieu.
|
Trong ba đêm đầu tiên hai vợ chồng chỉ được trò chuyện với nhau, không
có bất cứ ý niệm nào về nhục dục. Lúc ngủ trò chuyện cũng không được
quay lưng với nhau. Cha mẹ đỡ đầu sẽ ngủ ngoài phòng the để canh giữ hai
vợ chồng. Đến sáng thứ 7 của thượng tuần trăng trong tháng (tức 3 ngày
sau cưới), hai vợ chồng sẽ làm mâm lễ đem đến nhà cha mẹ chàng trai để
làm lễ trả áo. Lễ tục trả áo vừa xong cha mẹ đỡ đầu sẽ vào phòng the dỡ
khay mâm quả đặt ở dưới chiếu, đến lúc này hai vợ chồng mới được ân ái
với nhau.
Tục cấm ân ái ba đêm đầu là nét đẹp của người Chăm nhằm giáo dục bản
tính con người phải kìm nén dục tính. Trong cuộc sống người Chăm đã cấm
quan hệ ân ái trước hôn nhân thì ba đêm sau ngày cưới chính là ba đêm mà
hai người yêu thương nhau tìm hiểu nhau để khỏi phải ngỡ ngàng, e thẹn
khi bắt đầu chính thức cuộc sống vợ chồng.
Putra Jatrai
8 thg 12, 2013
Tên gọi khác
Chàm, Chiêm thành, Hroi
Nhóm ngôn ngữ
Malayô - Pôlinêxia.
Dân số
99.000 người.
Cư trú
Sống tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Một số nơi khác như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh cũng có một phần dân cư là người Chăm; tây nam Bình Thuận và tây bắc Phú Yên có người Chăm thuộc nhóm Hroi.
Đặc điểm kinh tế
Đồng bào Chăm sống ở đồng bằng, có truyền thống sản xuất lúa nước là chính. Kỹ thuật thâm canh lúa nước bằng các biện pháp giống, phân bón, thủy lợi khá thành thạo. Đồng bào Chăm biết buôn bán. Hai nghề thủ công nổi tiếng là đồ gốm và dệt vải sợi bông. Trước kia, người Chăm không trồng cây trong làng.
Tổ chức cộng đồng
Đồng bào có tập quán bố trí cư trú dân cư theo bàn cờ. Mỗi dòng họ, mỗi nhóm gia đình thân thuộc hay có khi chỉ một đại gia đình ở quây quần thành một khoảnh hình vuông hoặc hình chữ nhật. Trong làng các khoảnh như thế ngăn cách với nhau bởi những con đường nhỏ. Phần lớn làng Chăm có dân số khoảng từ 1.000 người đến 2.000 người.
Hôn nhân gia đình
Chế độ mẫu hệ vẫn tồn tại ở người Chăm miền Trung. Tuy đàn ông thực tế đóng vai trò to lớn trong cuộc sống nhưng chủ gia đình luôn là người đàn bà cao tuổi. Phong tục Chăm qui định con gái theo họ mẹ. Nhà gái cưới chồng cho con. Con trai ở rể nhà vợ. Chỉ con gái được thừa kế tài sản, đặc biệt người con gái út phải nuôi dưỡng cha mẹ già nên được phần chia tài sản lớn hơn các chị.
Nhà cửa
Nhà cửa của đồng bào hầu như có rất ít đặc điểm giống nhà của các cư dân Malayô - Pôlinêxia nào khác.
Nói đến nhà ở của người Chăm ở Bình Thuận thì cái nhà chưa phải là cái đáng quan tâm nhất, mà là một quần thể nhà trong một khuôn viên. Mối quan hệ của các nhà trong quần thể này đã thể hiện quá trình dan vỡ của hình thái gia đình lớn mẫu hệ để trở thành các gia đình nhỏ với các ngôi nhà ngắn.
Bộ khung của người Chăm ở Bình Thuận khá đơn giản. Vì cột cơ bản là vì ba cột (không có kèo). Nếu là vì năm cệt thì có thêm xà ngang đầu gác lên cây đòn tay cái nơi hai đầu cột con. Từ các kiểu vì này dần xuất hiện cây kèo và trở thành vì kèo.
Về mặt sinh hoạt, mỗi nhà trong khuôn viên có tổ chức mặt bằng khác nhau. Song, đồng bào cho rằng nhà thang yơ là kiểu nhà cổ nhất. Đó là nhà sản, nhưng nay sàn rất thấp gần sát mặt đất. Đầu hồi bên trái và một phần của mặt nhỏ dành cho khách, củ nhà, kho...
Với các nhà khách hình thức bố cục này hầu như vẫn được giữ lại. Khác chăng chỉ là hiêm của nhà thang yơ được giữ lại. Khác chăng chỉ là cái hiên của nhà thang yơ được bưng kín để kê phản, bàn ghế...
Đó là nói về nhà người Chăm ở Bình Thuận, còn nhà người Chăm ở miền Nam lại rất khác.
- Nhà người Chăm ở An Giang: cách tổ chức mặt bằng sinh hoạt còn phảng phất cái hình đồ sộ của nhà thang yơ ở Bình Thuận.
- Nhà người Chăm ở Châu Đốc: Khuôn viên của nhà Chăm Châu Đốc không còn nhiều nhà mà chỉ có nhà chính và nhà phụ kết hợp thành hình thước thợ. Chuồng trâu bò và lợn được làm xa nhà ở.
Nhà ở là nhà sàn, chân rất cao để phòng ngập lụt. Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt hoàn toàn khác với nhà ở Bình Thuận cũng như ở An Giang
Có những nhóm địa phương khác nhau với lối tạo dáng và trang trí riêng khó lẫn lộn với các tộc người trong nhóm ngôn ngữ hoặc khu vực.
+ Trang phục nam
Vùng Thuận Hải, đàn ông lớn tuổi thường để tóc dài, quấn khăn. Đó là loại khăn màu trắng có dệt thêu hoa văn ở các mép và hai đầu khăn cũng như các tua vải. Khăn đội theo lối chữ nhân, hai đầu thả ra hai mang tai. Nhóm Chăm Hroi đội khăn trắng quấn gọn trên đầu. Nam mặc áo cánh xẻ ngực màu sáng hoặc tối. Đó là loại áo cổ tròn cài cúc. Có người mặc áo ngắn, xẻ ngực, cộc tay. Các đường viền ở cổ sườn, hai thân trước và gấu được trang trí và đính các miếng kim loại hình tròn, có nhóm mặc lễ phục là loại áo dài xẻ nách trắng hoặc đỏ. Trang phục cổ truyền là chiếc váy và quần.
Về cơ bản, phụ nữ các nhóm Chăm thường đội khăn. Cách hoặc là phủ trên mái tóc hoặc quấn gọn trên đầu, hoặc quấn theo lối chữ nhân, hoặc với loại khăn to quàng từ đầu rồi phủ kín vai. Khăn đội đầu chủ yếu là màu trắng, có loại được trang trí hoa văn theo lối viền các mép khăn (khăn to), nhóm Chăm Hroi thì đội khăn màu chàm. Lễ phục thường có chiếc khăn vắt vai ngoài chiếc áo dài màu trắng. Đó là chiếc khăn dài tới 23m vắt qua vai chéo xuống hông, được dệt thêu hoa văn cẩn thận với các màu đỏ, trắng, vàng của các mô tip trong bố cục của dải băng.
Nhóm Khánh Hòa và một số nơi, chị em mặc quần bên trong áo dài. Nhóm Chăm Hroi mặc váy quấn (hở) có miếng đáp sau váy. Nhóm Quảng Ngãi mặc áo cánh xẻ ngực, cổ đeo vòng và các chuỗi hạt cườm.
Trang phục Chăm, vì có nhóm cơ bản là theo đạo Hồi nên cả nam và nữ lễ phục thiên về màu trắng. Có thể thấy đặc điểm trang phục là lối tạo hình áo (khá điển hình) là lối khoét cổ và can thân và nách từ một miếng vải khổ hẹp (hoặc can với áo dài) thẳng ở giữa làm trung tâm áo cho cả áo ngắn và áo dài. Mặt khác có thể thấy ở đây duy nhất là tộc còn thấy nam giới mặc váy ở nước ta với lối mang trang phục và phong cách thẩm mỹ riêng.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


