Bài viết mới đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề truyền thống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề truyền thống. Hiển thị tất cả bài đăng

12 thg 3, 2014

Nghề dệt chiếu Lâm Xuân

12 thg 3, 2014 - by Ana · - 0 Comments

Làng Lâm Xuân (ngày trước thuộc đất Địa Lí, Minh Linh, nay thuộc xã Gio Mai, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị) là một làng cổ ở Quảng Trị, được “Ô Châu cận lục”, “Phủ biên tạp lục” đề cập đến là nổi tiếng với nghề dệt chiếu. Làng được hình thành từ khoảng năm 1558, khi Nguyễn Hoàng tránh nạn Trịnh Kiểm. Trong chiến tranh Việt Nam, Lâm Xuân từng là một chiến trường ác liệt.

Nghề dệt chiếu Lâm Xuân

Vị trí địa lý

Làng Lâm Xuân: Phía Bắc giáp thôn Nhĩ Hạ, xã Gio Thành, phía tây bắc giáp thôn Tân Minh, xã Gio Thành. Phía đông giáp thôn Hoàng Hà, xã Gio Việt, Phía nam giáp thôn Mai Xá, xã Gio Mai. Phía tây là vùng cát giáp xã Gio Quang.
Lịch sử
Trong chiến tranh Việt Nam, nơi đây từng là chiến trường của nhiều trận đánh ác liệt tại Quảng Trị  tiêu biểu là một trận đánh diễn ra vào ngày 29 tháng 3 năm 1968, Sư đoàn 320 (mang biệt hiệu "Sông Dinh") giao tranh với với 5 tiểu đoàn của đối phương, có máy bay, trọng pháo và xe tăng yểm trợ. Mặc dù quân số đông hơn nhiều lần nhưng do kỹ thuật tác chiến kém nên sư đoàn 320 bị truy sát, họ phải dùng đến một trung đội để thay chân,tử thủ nhằm kìm hãm bước tiến quân địch. (Sau đó đơn vị này đã được tặng danh hiệu "Đại đội gang thép")..

    Những địa danh như: Cồn Chùa, Lòi Đông... chứng kiến rất nhiều trận đánh ác liệt Quân lực Việt Nam Cộng hoà, bên kia là Quân đội Nhân dân Việt Nam.

    Sau hoà bình lập lại, nhiều gia đình đến đây tìm kiếm lính mất tích.

Kinh tế - Văn hóa

Nền kinh tế chủ yếu ở đây là độc canh cây lúa. Năm 1997, nhờ có thuỷ lợi từ hồ Trúc Kinh cây lúa nước đã phát triển mạnh, nâng cao đời sống của người dân, do vị trí không thuận lợi cho thương nghiệp nên buôn bán ít phát triển.

Làng Lâm Xuân nổi tiếng Việt Nam với nghề dệt chiếu cói. Người dân ở đây có truyền thống làm chiếu, với đặc thù là một làng nghề, đất chật người đông, từ xa xưa người dân Lâm Xuân đã tìm đến nghề dệt chiếu làm kế mưu sinh nhờ tận dụng những vùng nguyên liệu có sẵn quanh làng. Tuy nhiên hiện nay đã mai một dần do con sông Cánh Hòm đã bị ngăn mặn, khiến cho cây cói - một nguyên liệu quan trọng để làm chiếu không còn cộng với đó là sự xâm nhập ồ ạt của chiếu Trung Quốc, Thái Lan tràn vào thị trường với mẫu mã bắt mắt đã đẩy làng chiếu Lâm Xuân đến nguy cơ biến mất.

Chiếu Lâm Xuân có ưu điểm là nằm mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, không nóng như chiếu nhựa, nilon của Trung Quốc hay Thái Lan. Nguyên liệu chính là cây cói được khai thác từ các cánh đồng cói quanh làng. Nguyên liệu thứ hai là cây đay – dùng để tạo các đường sân của chiếu, được khai thác từ vùng rừng núi miền tây Gio Linh. Khuôn dệt cũng hết sức thô sơ và đơn giản. Chất liệu toàn bằng tre gỗ. Quy trình sản xuất thủ công, tận dụng được mọi thời gian, mọi lứa tuổi trong gia đình tham gia. Ngày trước cả làng có hơn 100 khung dệt, với trên 2/3 số hộ làm nghề, hằng ngày sản xuất ra hơn 300 chiếc chiếu các khổ cung cấp cho cả vùng.

Hiện tại trước cơn lốc thị trưòng và sự cạn kiệt về nguyên liệu nghề chiếu Lâm Xuân không còn phát triển như xưa, trong làng chỉ còn đôi ba hộ theo nghề và chủ yếu là sản xuất tự cung tự cấp chứ không trở thành sản phẩm hàng hóa. Tìm hướng đi thích hợp cho nghề để khôi phục phát triển, củng cố mở rộng sản xuất là một đòi hỏi thiết thực được đặt ra cho chính quyền và nhân dân địa phương trong nền kinh tế hàng hóa hôm nay.

Nghề chiếu của làng Lâm Xuân là một trong các làng nghề nổi tiếng Việt Nam.

9 thg 1, 2011

LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG BÌNH THUẬN

9 thg 1, 2011 - by Ana · - 0 Comments

Bên cạnh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, từ lâu ở Bình Thuận đã hình thành nhiều làng nghề. Những làng nghề này tận dụng nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương tạo nên một số nghề truyền thống dân gian, đáp ứng nhu cầu muôn mặt của cuộc sống. Đến nay, có nghề đã thất truyền, có nghề còn tiếp nối. Tuy không đóng góp giá trị sản xuất lớn cho địa phương nhưng các làng nghề sản xuất như bánh tráng, mây tre lá đan lát thủ công mỹ nghệ, mộc dân dụng,..cũng đã có thị trường tiêu thụ ổn định, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho người dân

Bình Thuận là vùng đất sản sinh nhiều ngành nghề thủ công dân gian. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Thuận có khoảng 30 làng nghề hoạt động, trong đó đã có 21 làng được công nhận là làng nghề CN-TTCN hoạt động trong lĩnh vực chế biến hải sản, nước mắm, sản xuất gạch ngói, làng mía đường, bánh tráng,…Đối với lĩnh vực chế biến hải sản, nhờ có sự hoạt động của một số doanh nghiệp sản xuất chế biến, xuất khẩu hàng thủy hải sản với quy mô tương đối lớn nên đã góp phần thúc đẩy các làng nghề chế biến hải sản, nước mắm phát triển, trên 60% lượng thủy hải sản sản xuất chế biến đều được xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường tiềm năng như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,… giá trị xuất khẩu bình quân các năm của làng nghề này ước đạt khoảng 30 triệu USD. Hiện một số sản phẩm đan lát hàng thủ công mỹ nghệ đã được xuất khẩu ủy thác thông qua các DN tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai,.. Trên địa bàn tỉnh có đến 6.200 hộ tham gia sản xuất tại các làng nghề này và giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 10.000 lao động chính thức và khoảng 12.000 lao động nông nhàn tại các địa phương.

Là xứ sở giàu lâm sản mây, tre, nứa, lá buông nên nghề thủ công mỹ nghệ đan lát khá phổ biến. Đôi tay khéo léo của người dân được thể hiện ở từng nan mây, thanh tre, dải lá, nút thắt, đường viền nhuần nhuyễn, tinh tế thể hiện qua từng sản phẩm.

Có thể nhận thấy nghề thủ công dân gian không bị thất truyền là dệt thổ cẩm và làm gốm.
Dệt thổ cẩm của người Chăm phần lớn tập trung ở 90% hộ xã Phan Hòa. Bông hái về phơi khô, cán lấy hột, dùng cung bắn cho bông bung ra, trải thành lớp mỏng, lấy thanh tre cuộn lại thành con bông rồi móc vào xa quay kéo sợi. Muốn sợi săn chắc không bị xù lông và đứt khi dệt thì đem ngâm nước cơm, đạp cơm, sau đó chải sợi, phơi khô, đánh ống. Muốn có sợi màu thì nhuộm lục từ cây chàm, đỏ từ lá trâm bầu, đen từ cây muông, vàng từ cây trừng. Thời công nghiệp có sẵn chỉ trắng, chỉ màu ngân tuyến, kim tuyến mua về dệt đỡ công hơn dệt từ bông xơ và chế biến màu từ lá cây rừng. Khi dệt, người thợ mắc sợi trên khung rồi ngồi trước khung đưa tay lòn con thoi qua lại và dùng dao dệt dập sợi, tạo nên tiếng kêu lách cách ngắt nhịp đều đều. Muốn tạo mô típ hoa văn, người thợ lành nghề có thể “bắt bông” cách điệu với những họa tiết mang đậm bản sắc văn hóa Chăm. Từ bốn hoa văn cổ truyền xanh két, vàng cúc, trắng đen đi trên nền đỏ, bà con tạo ra các sản phẩm túi xách, ví, khăn, dây thắt lưng thích hợp với thị hiếu khách hàng.

Nghề gốm với những sản phẩm gốm Chăm đa dạng về chủng loại gồm đồ đun nấu, đồ đựng, khuôn bánh, sản phẩm gốm Chăm mỏng, nhẹ, bền, giá rẻ phù hợp với túi tiền dân nghèo nên được tiêu thụ nhiều trong người Chăm, người Kinh, người Thượng trong tỉnh, và ra cả ngoài tỉnh.

Ngoài những làng nghề nổi tiếng này, còn có nghề chạm khắc gỗ là nghề thủ công mỹ nghệ xưa kia rất thịnh hành ở Bình Thuận, nghề làm nhạc cụ cũng là một nghề kinh nghiệm dân gian của đồng bào Chăm. Nhạc cụ Chăm, hình thức vốn đơn giản, mộc mạc nhưng lại phức tạp về vật lý âm thanh, do đó không mấy ai có thể làm được. Hiện nay ở Bình Thuận chỉ còn một vài nơi nghệ nhân còn tiếp lục hành nghề như các ông Cả Vỗ ở Phan Hiệp, Phan Thanh... (huyện Bắc Bình). Vùng đồng bào dân tộc miền núi Raglai, Cơ Ho, rải rác vài ba xóm buôn có một đôi hộ làm kèn bầu, đàn môi, sao trúc và một ít nhạc cụ đơn giản khác bằng tre nứa dùng trong các ngày lễ hội.

Làng nghề hiện chưa trở thành điểm tham quan và là điểm đến cho du khách nhưng những mang trong mình những nét văn hóa của dân tộc trong tương lai. Vì vậy, tỉnh sẽ tập trung hỗ trợ xây dựng những làng nghề như dệt thổ cẩm La Dạ -Hàm Thuận Bắc, tiếp tục củng cố, phát triển làng nghề dệt thổ cẩm Phan Thanh- Bắc Bình, xây dựng quy hoạch chi tiết làng nghề gạch ngói Gia An- Tánh Linh. Đồng thời cải thiện môi trường làng nghề chế biến nước mắm Phú Hài- Phan Thiết bằng việc quy hoạch khu xử lý nước thải cho làng nghề, thông qua các chương trình xúc tiến hỗ trợ đầu tư, chương trình khuyến công địa phương để hỗ trợ các làng nghề về đào tạo lao động, kiến thức quản lý, tăng cường khả năng kinh doanh, chuyển giao khoa học công nghệ, cũng như là tiến hành đăng ký thương hiệu, nhãn hiệu,…

Theo: cuocsongviet

Làng sơn mài Tương Bình Hiệp

- by Ana · - 0 Comments

Lịch sử văn hóa nghệ thuật của Bình Dương được biết đến nhiều là qua những bàn tay của các nghệ nhân về điêu khắc gỗ, chạm lọng, gốm sứ, nhưng những nghệ nhân đó thường quy tụ lại thành một phường hay làng nghề để cùng nhau thực hiện những nghề nghiệp và ước vọng của mình. Làng nghề được biết đến nhiều và tiêu biểu cho Bình Dương là làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp (nay thuộc TX.TDM, tỉnh Bình Dương). Vào nửa đầu thế kỷ 18, khi dân Việt di cư từ Trung, Bắc, ngược dòng sông Sài Gòn đến lập nghiệp ở tỉnh Thủ Dầu Một đã lập lên một ngôi làng nhỏ chuyên làm tranh cổ. Trải qua thời gian, qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử làng nghề vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

 

Sau một thời gian khai khẩn đất hoang tạo lập nhà cửa, việc mưu sinh trên đất mới tạo ổn định, trong thời gian rảnh rỗi việc đồng áng, những người lưu dân đây đã thực hiện những bức sơn mài đầu tiên để tưởng nhớ quê cha đất tổ. Chính những bức sơn mài đầu tiên đó đã được những người giàu có trong vùng biết đến và họ đã đặt mua những bức tương tự để đem về trưng bày trong nhà, đồng thời họ đã tạo nên một nghề mới cho những lưu dân này trong lúc nông nhàn. Tiếng lành đồn xa, hàng đặt ngày càng nhiều, từng hộ chuyên vào ngành nghề này và lôi kéo theo nghe sơn mài. Với những vật liệu bằng gỗ mít thô sơ, được sơn nhiều lớp dầu sơn Phú Thọ, được đánh đi đánh lại tạo nên một lớp men đen bóng. Mỗi bức sơn mài là một tác phẩm nghệ thuật, được các nghệ nhân Tương Bình Hiệp thả hồn mình vào đó để tạo nên những kiệt tác có giá trị thẩm mỹ cao. Để có những tác phẩm nghệ thuật đó, là cả một quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật từ đôi bàn tay của nghệ nhân khéo léo, tỉ mỉ đến từng chi tiết để tạo nên một tác phẩm sơn mài sản xuất theo kiểu cổ truyền, thường trải qua hai mươi lăm công đoạn. Đó chính là hai mươi lăm bước công đoạn khắt khe mà một tác phẩm nghệ thuật sơn mài cổ truyền đòi hỏi mất nhiều công sức và thời gian. Người thợ sơn mài đích thực đó chính là người thợ luôn tâm huyết với nghề.
Khi người Pháp chiếm Thủ Dầu Một, họ rất thích thú đến nghệ thuật sơn mài, người Pháp đã nhận thấy được giá trị của nghệ thuật này nên họ đã dùng phương pháp sáng tạo của phương Tây bổ sung cho nghệ thuật cổ truyền của dân tộc Việt Nam để tạo nên những bức sơn mài cao cấp hơn.
Trải qua nhiều thế hệ, sơn mài Tương Bình Hiệp vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, đó là sự tinh xảo, nhẹ nhàng mang đậm phong cách Á Đông. Sơn mài Tương Bình Hiệp từ sản xuất tự phát đơn lẻ đã đi vào sản xuất theo yêu cầu công nghiệp. Ngày nay, các cơ sở sản xuất sơn mài có thể sản xuất khá đa dạng các sản phẩm. Từ những hộ gia đình sản xuất theo dạng truyền thống, nhiều mô hình sản xuất lớn đã được hình  thành. Sơn mài cổ điển vẫn được ưa chuộng. Bên  cạnh đó, hàng loạt sản phẩm với mẫu mã hiện Đại, phù hợp với nhu cầu của cơ chế thị trường được hình thành tạo nên tính đa dạng phong phú cho sản phẩm sơn mài. Theo thời gian, các sản phẩm đa dạng hơn về màu sắc, hình vẽ, chất liệu… để đáp ứng nhu cầu thị trường. Ngoài ra, những vật liệu mới được đưa vào sử dụng làm phong phú thêm mỹ nghệ sơn mài.

Nghề sơn mài truyền thống của Tương Bình Hiệp đã được gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Làng sơn mài, không chỉ là niềm tự hào của Các thế hệ nơi đây mà còn là một nét văn hóa đẹp đáng trân trọng. Để giữ gìn và phát huy truyền thống Nghề sơn mài, những nghệ nhân tâm huyết với nghề đã chung tay xây dựng nét đẹp làng nghề. (Đình làng được trùng tu với sự đóng góp sức người, sức của từ các nghệ nhân và cơ sở sơn mài. Mỗi bàn thờ là một công trình nghệ thuật sơn mài kiệt tác từ những người thợ nơi đây). Sản phẩm sơn mài củaTương Bình Hiệp không chỉ là hàng hóa mỹ nghệ đơn thuần, mà có nhiều sản phẩm đã đạt đến đỉnh cao của giá  trị nghệ thuật. Sản phẩm sơn mài đã theo bước chân của những du khách đi khắp nơi trên mọi miền đất nước, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu sang các nước phương Tây.
 

Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật của làng nghề, các  thế hệ nối tiếp nhau làm vang danh làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp, các trường lớp đào tạo nghề sơn mài đã được mở ra để giữ gìn nét đẹp truyền thống.Trải qua bao thế hệ với những thăng trầm một làng nghề, sơn mài Tương Bình Hiệp vẫn mang đậm nét văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc. Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp luôn là niềm tự hào bao thế hệ, là nét đẹp văn hóa cần được bảo tồn và phát huy giá trị đích thực của một làng nghề cổ truyền.

Bến Tre - Làng Kềm Mỹ Thạnh

- by Ana · - 0 Comments

Làng nghề kềm kéo Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban đầu tập trung ở Ấp Chợ rồi tỏa ra khắp làng xã Mỹ Thạnh và trở thành nghề truyền thống của người dân địa phương.

Cây kềm ra đời sau khi đã trải qua hơn chục công đoạn để đạt đến độ tinh xảo, đáp ứng tối đa nhu cầu của người sử dụng. Tất cả đều là gia công từ dập phôi, phai trụ, phai dĩa cho đến lăn cán, bo khoan, chạy dốc, xốc mũi, chui, đánh bóng, xi mạ, mài bén và cuối cùng là đóng gói bao bì hoàn chỉnh. Vì thế, người lao động của làng nghề đủ mọi thành phần, ai cũng có thể tham gia một hay nhiều công đoạn. Nhiều gia đình cả nhà đều làm kềm: chồng dập phôi, con phai dĩa…
Hiện tại, làng kềm Mỹ Thạnh thu hút 658 thợ tham gia 72 cơ sở sản xuất trên địa bàn xã, mỗi năm cung cấp cho thị trường hơn 3 triệu sản phẩm, tạo thu nhập bình quân từ 750.000 - 900.000 đồng/người/tháng. Thợ lành nghề nhất là thợ chuyên mài bén có thu nhập đến hơn 2 triệu đồng/tháng. Sản phẩm của làng nghề gồm kềm và kéo, ngoài ra còn một số hộ sản xuất thêm mặt hàng dũa móng tay, móng chân. Tuy vậy, cây kềm Mỹ Thạnh vẫn giữ vai trò chủ lực trong chiến lược phát triển kinh tế của làng nghề, chiếm hơn 90% thị phần tại Bến Tre, tiêu thụ trên cả nước qua chợ Bình Tây (thành phố Hồ Chí Minh) và còn xuất ra nước ngoài theo đường tiểu ngạch.
.

Bến Tre - Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Ðốc

- by Ana · - 0 Comments

Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Ðốc
Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Ðốc là niềm tự hào của người dân xứ dừa Bến Tre. Trải qua hàng thế kỷ, từ đời này truyền đời khác, những sản phẩm truyền thống đó giờ đây vẫn được ưa chuộng.
Bánh tráng Mỹ Lồng...
Hiện nay mối lái các tỉnh hằng ngày vẫn về Mỹ Lồng (xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) nhận bánh rồi tỏa đi khắp nơi. Bánh Mỹ Lồng nổi danh nhất là loại bánh tráng dừa vừa béo vừa xốp, vừa đặt lên lò than đã tỏa hương thơm lừng. Thứ bánh tráng dừa đó, dân Mỹ Lồng chia làm ba loại, bánh đặc biệt có sữa, trứng gà, dừa; bánh ngang chỉ có dừa không sữa; bánh sữa không dừa...
Chẳng ai biết nghề bánh tráng có từ bao giờ. Anh Thanh Phong vốn là cán bộ phụ trách văn hóa thông tin xã, kể chuyện: "Hồi xưa ông sơ tui mê đánh bài, đất đai cò bay thẳng cánh mà cũng "teo" hết. Bà sơ nhỏ mới xoay qua nghề bánh tráng, riết rồi cũng chuộc được số đất đai mà ông sơ cầm cố. Chứng tỏ nghề tráng bánh hồi đó cũng hưng thạnh lắm...". Lan man bên câu chuyện có vẻ như... "thần thoại" đó, ông Tư Măng dẫn tôi về nhà bà Trần Thị Chống để thấy một nhân chứng lâu năm của nghề tráng bánh: Cái ghế làm bằng gỗ gõ mà bà chống chân lên cho đỡ mỏi khi ngồi tráng bánh đã lõm xuống nguyên hình bàn chân.Xã Mỹ Thạnh có hơn 150 lò bánh, nổi danh có lò Tư Măng, Hữu Tâm, Thanh Tâm, Ngọc Xuân... Các lò bánh tráng Mỹ Lồng tập trung nhiều nhất ở ấp Nghĩa Huấn. Kỳ lạ, cũng ở trong ấp Nghĩa Huấn nhưng bánh thuộc các lò ở khu II, khu IV vẫn được đánh giá là ngon hơn. Người quanh vùng cho rằng tại dừa khu II, khu IV ngọt hơn, ngon hơn nên bánh tráng Mỹ Lồng của các lò ở đây cũng được trời cho như vậy. Người ở Mỹ Lồng đi xa xứ làm ăn cũng mang theo nghề tráng bánh, nhưng bánh không ngon bằng bánh Mỹ Lồng trong khi người ở nơi khác đến học nghề rồi hành nghề tại địa phương thì... bánh cũng ngon như vậy. Bí quyết ở đâu? Ông Tư Măng cười: "Nghề truyền thống, ông bà để sao con cháu làm vậy, cũng khó nói lắm. Nhưng có lẽ đây là vùng nguyên liệu phong phú, chất lượng nên bánh ngon hơn chăng? Cái khác rõ rệt nhất của bánh tráng Mỹ Lồng với bánh các vùng khác là bánh được làm từ gạo dẻo và nước cốt dừa đậm đặc...".
Công việc của nghề làm bánh tráng bắt đầu từ lúc ba giờ chiều. Ngâm bột, nạo dừa. Khuya đến xay bột, ép nước cốt, gần sáng tráng bánh đi phơi. Nói thì đơn giản, nhưng để có một cái bánh tráng vừa tròn, vừa mỏng đều phải nhờ bàn tay khéo léo và biết bao giọt mồ hôi... Lúc trước, bánh tráng Mỹ Lồng được làm từ gạo địa phương, pha thêm nếp cho có độ dẻo vừa phải. Cách đây hơn chục năm, lúc Bến Tre mất mùa lúa vì dịch rầy nâu, dân Mỹ Lồng phải lặn lội đi tìm gạo nơi khác. Ðến Cầu Ngang, Trà Vinh, tìm được thứ gạo sỏi trắng, thứ gạo này không thể nấu cơm vì cơm chưa sôi gạo đã nát, nhưng lại là nguyên liệu rất tuyệt của bánh tráng... Về sau, bánh Mỹ Lồng còn có thêm loại bánh nem (bánh tráng cuốn) vừa mỏng, vừa dai, vừa tay cuốn. Loại bánh nem này hiện có mặt ở rất nhiều các nhà hàng sang trọng chốn thị thành...
Bánh phồng Sơn Ðốc
Từ Mỹ Thạnh đi tiếp về hướng Ba Tri mười cây số, gặp ngã ba có bày bán thiệt nhiều dừa, rẽ tay phải chưa đầy cây số là về đến Sơn Ðốc. Ngôi chợ xã tuy nhỏ nhưng khang trang nằm lọt thỏm giữa rừng dừa xanh mát và những ngôi nhà mới tường xây mái ngói chứng tỏ sự hưng thịnh của Sơn Ðốc...
Chỉ với ba, bốn lò bánh trong vòng vài chục năm trước đây, bánh phồng Sơn Ðốc vẫn giữ vững được truyền thống và danh tiếng của mình. Trong cả thế kỷ trước, tấm bánh phồng Sơn Ðốc thơm lừng, vừa ngọt, vừa giòn, vừa bùi vừa béo vẫn là thứ quà mà trẻ nhỏ ở những vùng quê miền tây trông đợi khi bà, khi mẹ đi chợ về. Bánh phồng Sơn Ðốc nổi danh hơn cả cũng với thứ bánh phồng dừa ngọt, dù bây giờ có nhiều loại khác như bánh hành, bánh mặn... Có lẽ làm bánh phồng còn cực hơn cả bánh tráng. Nguyên liệu chính được làm từ nếp, nhưng phải đồ thành xôi, cho vào cối "quết" nhuyễn cùng với các phụ liệu khác, rồi mới cán mỏng đem phơi. Cũng như bánh tráng, phơi bánh phồng là một kỳ công. Phải vừa nắng, nắng quá bánh sẽ chai, gặp mưa xuống là kể như bỏ. Một chục lít nếp (1 lít bằng khoảng 600 gam) cán chừng hơn ba trăm bánh, công việc bắt đầu khoảng 3 giờ sáng và kết thúc khi nắng vừa lên. Khó nhất là khâu quết bánh, năm người đàn ông làm cật lực để quết mỗi mẻ năm lít nếp. Vào làng nghề quết bánh phồng mỗi sáng, tiếng chày thậm thịch rộn rã khác thường. Bình thường mùa mưa mỗi lò quết khoảng ba bốn chục lít nếp mỗi ngày. Cao điểm nhất là vào dịp Tết, có khi đến hai trăm lít.
Sơn Ðốc hiện có khoảng gần ba chục nhà làm bánh, nhưng có truyền thống và lâu năm ba bốn đời trở lên thì đếm chưa đầy đầu ngón tay. Ông Ba Thành thừa hưởng nghề từ cha mình là ông Sáu Chôm, nuôi năm người con, trong đó dựng vợ gả chồng ba người nhờ nghề bánh. Vậy mà bà Ba vẫn âu lo: "Nghề quết bánh phồng làm việc theo thời vụ. Nắng làm nhiều mưa là ít. Tui chưa thấy ai quết bánh phồng mà giàu có bao giờ". Nói thì nói vậy, chứ cái nghề cha ông truyền lại cũng khó mà dứt được. Mỗi lò ngoài việc tận dụng hết nhân công trong gia đình còn phải thuê thêm khoảng gần chục người để phụ việc. Chính từ những người phụ việc này sau khi thành nghề đã "ra riêng" để nghề quết bánh phồng Sơn Ðốc phát triển như hôm nay.
Niềm vui những làng nghề...
Ngày càng phát triển, đó là niềm vui chung và lớn nhất của làng nghề Mỹ Lồng, Sơn Ðốc. Số lượng những lò bánh cứ ngày một tăng lên, càng ngày càng có nhiều máy móc, phương tiện khoa học kỹ thuật đưa vào phục vụ cho nghề truyền thống...
Người làm bánh Mỹ Lồng đã có dịp tham quan những làng nghề bánh tráng ở Củ Chi, Trảng Bàng, để học hỏi kinh nghiệm, công nghệ... Dân Mỹ Lồng đã đầu tư mua máy nạo dừa, ép dừa với giá khoảng bảy triệu đồng.  Lò nào muốn vay tiền đều được ngân hàng xem xét và tạo điều kiện giúp đỡ. Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường Bến Tre cũng tổng kết công thức chung, công bố phương pháp cho bà con nâng thời gian bảo quản bánh từ ba tháng lên sáu tháng; trang bị ống đo độ đậm đặc của bột trước khi tráng bánh. Bánh tráng Mỹ Lồng vì thế đều hơn, "công nghiệp" hơn... Bánh phồng Sơn Ðốc cũng vậy. Sau chuyến tham quan làng bánh phồng ở Cái Bè, ông Bảy Viên đã nhanh chóng trang bị cho mình hai máy quết bánh, mỗi máy khoảng gần chục triệu đồng chỉ chuyên để... quết thuê, một chục lít nếp giá 5.000 đồng.

1 thg 12, 2010

Làng Triều Khúc – trầm mặc giữa phố phường

1 thg 12, 2010 - by Ana · - 0 Comments

Thăng Long – Hà Nội đã đi qua 1000 năm tuổi và vẫn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa còn trường tồn mãi cùng với dòng chảy của thời gian. Một trong những nét đẹp văn hóa còn được người dân Hà thành gìn giữ cho tới bây giờ đó chính là các làng cổ. Bên cạnh làng cổ Đường Lâm, làng cổ Nghi Tàm…, làng Triều Khúc cũng góp cho Hà Nội một địa chỉ văn hóa để du khách gần xa có dịp về đây tham quan. Phong cảnh, di tích, phong tục văn hóa và sinh hoạt của làng quê này vẫn mang dấu ấn từ thời khai làng lập đất.

Làng Triều Khúc thuộc xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, cách trung tâm Hà Nội 8km theo đường Hà Nội đi Hòa Bình. Về với làng Triều Khúc, du khách sẽ ngỡ ngàng trước những phong cảnh nguyên sơ, mộc mạc của làng quê Việt Nam. Dường như cảnh vật nơi đây không hề bị biến đổi khi nằm ngay cạnh trung tâm kinh tế, chính trị náo nhiệt của cả nước. Những đình, đền, chùa, cây đa, giếng nước… đều giữ được những nét cổ kính từ đời này qua đời khác. Những con đường vào làng được lát gạch sạch sẽ, những mái ngói san sát nằm kề nhau tạo cho làng quê một vẻ bình dị và gần gũi. Dưới những mái ngói bạc màu thời gian ấy là những cuộc đời quanh năm gắn bó với làng quê.  

Làng Triều Khúc nổi tiếng gần xa với nghề dệt, được hình thành từ cuối Lê đầu Nguyễn. Đến nay, người Triều Khúc vẫn còn truyền nhau câu chuyện về tổ nghiệp của họ - ông Vũ Đức Úy, sống vào thế kỷ 18. Ông được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc, học nghề dệt thao sau đó về dạy lại cho dân làng. Từ đó, Triều Khúc còn được gọi là làng Kẻ Thao bởi nghề dệt thao giúp chiếc nón quai thao trở nên mềm mại và tinh tế hơn. Cùng với nghề dệt thao, người làng còn kết hợp nghề thêu may với nghề dệt nhuộm, để làm thêm chân chỉ, tua bóng, tua cờ, lọng, tàn, trướng, y môn, tán tía, quả cù - những vật thờ và trang trí treo trong những ngày lễ tết, trong các đền, phủ và các buổi lễ hội. Trong làng, đâu đâu cũng có những cơ sở sản xuất, không khí lao động hăng say, tích cực. Họ quay sợi, dệt vải và cũng là dệt nên truyền thống tốt đẹp của quê hương. Bằng đôi bàn tay khéo léo của mình, mỗi người dân đã góp phần làm nên sự tồn tại và phát triển bao đời nay của làng Triều Khúc, tạo nên bộ mặt sung túc cho vùng quê cổ kính này.  
Nổi bật giữa khung cảnh làng quê bình yên, thơ mộng là cụm di tích đình – đền – chùa Triều Khúc.  
Đình là trung tâm diễn ra lễ hội của làng. Ở Triều Khúc có hai đình là đình Sắc (nơi để sắc phong) và đình Đại hay còn gọi là Đình Lớn (nơi thờ Phùng Hưng). Kiến trúc của cả hai ngôi đình đều còn nguyên vẹn như xưa. Đình có quy mô kiến trúc lớn, gồm tam quan, phương đình, hai dãy nhà giải vũ, đại đình và hậu cung. Tam quan là một ngôi nhà gạch ba gian kiểu vì kèo. Sau tam quan là phương đình hai tầng, tám mái, mười sáu cột (bốn cột cái lớn và mười hai cột quân), các kẻ chạy từ cột cái tới nóc. Các đầu kẻ có chạm rồng và lá, đầu dư chạm hình đầu rồng thời Nguyễn, góc mái uốn cong, bờ dải đắp nổi hình rồng, phượng hướng về nóc mái. Qua sân là hai nhà giải vũ song song với phương đình.  
Đại đình là kiến trúc chính gồm năm gian lợp ngói ta, với 24 cột, bốn hàng dọc, sáu hàng ngang, ba mặt xây tường gạch. Hậu cung là một ngôi nhà ba gian nối với gian giữa đại đình tạo nên kiến trúc hình chữ "đinh". Đây là nơi đặt long ngai bài vị, đồ thờ tự và mười một đạo sắc phong, sớm nhất là năm Cảnh Hưng thứ 44 (1784), muộn nhất là năm Khải Định thứ 9 (1924).  
Đền Triều Khúc được xây ở giữa làng, trông ra hồ rộng. Đây là ngôi nhà rộng, phía trong có hệ thống sàn, trước sau đều để trống, thoáng đãng. Sau ngôi nhà này là ngôi nhà làm nơi thờ (có thể gọi là tiền đình), nối liền với hậu cung, 2 bên đầu hồi có tường nối suốt cả ba toà. Đền Triều Khúc được chạm trổ khá công phu.  
Chùa Triều Khúc có tên chữ là Hương Vân tự, có quy mô to lớn, bao gồm tam quan, tam bảo, tiền đường, thượng điện, hai dãy hành lang, nhà Tổ. Chùa toạ lạc phía bên kia bờ hồ đình và đền Triều Khúc, trong một khuôn viên có nhiều cây cổ thụ sum suê. Tam quan hai tầng mái ở cửa chính và 2 cửa phụ, có bốn cột trụ biểu. Nhà tiền đường gồm năm gian, tường hồi bít đốc tay ngai bờ nóc đắp cuốn thư. Toà thượng điện 5 gian nối với tiền đường tạo hình chuôi vồ. Phật điện có 52 pho tượng được tạo tác từ thế kỉ 18 và thời Nguyễn.  
Đình - đền - chùa Triều Khúc đều đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Lịch sử - Nghệ thuật - Kiến trúc ngày 29/01/1993.  
Ngoài ra, làng Triều Khúc còn được giới sử học công nhận làng cổ từ khi các nhà khảo cổ học tìm thấy di chỉ khảo cổ học với 140 hiện vật đá, gốm thuộc Văn hóa Phùng Nguyên cách ngày nay trên dưới 3.500 năm, trên gò Cây Táo ở cánh đồng Miễu của làng.  
Đến Triều Khúc vào mùa lễ hội, du khách sẽ được hòa mình vào không khí náo nhiệt của những phong tục văn hóa và sinh hoạt dân gian truyền thống. Để nhớ ơn người đã đem lại cuộc sống ấm no cho mình, dân làng đã thờ ông tổ nghề tại đình Lớn cùng với vị Thành hoàng là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (770 - 798). Hằng năm, làng tổ chức lễ hội tại đình Lớn để ghi nhớ công ơn tổ nghề và thao diễn lại trận đánh oanh liệt của vị Đại vương mà dân làng vẫn tôn kính phụng thờ.  
Lễ hội Triều Khúc được tổ chức từ mùng 9 đến 12 tháng Giêng. Vào sáng mùng 10, lễ tế chính thức được tiến hành ở đình Lớn. Theo truyền thuyết thì đây là lễ Tức vị (lễ lên ngôi) của Phùng Hưng. Trong lễ tế thường có hai điệu múa rất nổi tiếng là múa Rồng và múa Trống Bồng. Ngoài ra, hội làng Triều Khúc còn có nhiều trò vui khác như múa lân hí cầu, đấu vật, hát Chèo Tàu. Sới vật Triều Khúc cũng là một trong những sới nổi tiếng, thu hút khá đông các đô vật nơi khác về tham dự: Bắc Ninh, Gia Lâm, Mai Động...   
Giữa phố phường tấp nập được lắng mình trong không gian văn hóa của làng cổ Triều Khúc quả là một điều đáng quý. Có thể nói làng Triều Khúc với những phong tục văn hóa truyền thống và những lễ hội dân gian đã thể hiện sâu sắc cốt cách và nét đẹp tâm linh của người Hà thành. Những nét văn hóa nguyên sơ ấy đã được người dân nơi đây lưu truyền từ đời này qua đời khác và chắc chắn sẽ còn mãi với thời gian…

23 thg 10, 2010

Bắc Ninh - Làng đúc đồng Đại Bái

23 thg 10, 2010 - by Ana · - 0 Comments


Nghề gò và đúc đồng của làng Bưởi hay ta còn gọi là làng Đại Bái thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh - Một làng nổi tiếng với những sản phẩn được đúc từ đồng như: Tượng đồng, đỉnh đồng, lư hương, lợ hoa, tranh, câu đối bằng đồng... với nghề Đúc đồng truyền thống, từ xưa làng là đã chuyên sản xuất đồ đồng phục vụ về mặt dụng cụ gia đình và cho đến đầu thế kỷ XI mới được phát triển mạnh nhờ công của ông Nguyễn Công Truyền lo tổ chức sản xuất và tạo mẫu, dân làng tôn ông là " Tiền tiên sư".

Muốn ăn cơn trắng, cá trôi

Thì về làng Bưởi đánh nồi với anh

Muốn ăn cơm trắng cá ngần

Thì về làng Bưởi cầm cân buôn đồng

Hai câu ca dao trên nói nên nghề gò và đúc đồng của làng Bưởihay ta còn gọi là làng Đại Bái thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh - Một làng nổi tiếng với những sản phẩn được đúc từ đồng như: Tượng đồng, đỉnh đồng, lư hương, lợ hoa, tranh, câu đối bằng đồng... Đại Bái cổ xưa còn có tênlàng Văn Lãng, nằm trên một giải đất cao bên bờ sông Bái Giang (Một nhánh của sông Thiên Đức cũ), cách đường 182 1km, làng Đại Bái nổi tiếng với nghềĐúc đồng truyền thống, từ xưa làng là đã chuyên sản xuất đồ đồng phục vụ về mặt dụng cụ gia đình, ban đầu mới chỉ làm nồi sanh thô sơ sau mới có ấm, mâm, chậu thau và cho đến đầu thế kỷ XI mới được phát triển mạnh nhờ công của ông Nguyễn Công Truyền lo tổ chức sản xuất và tạo mẫu, dân làng tôn ông là " Tiền tiên sư".

Ông Nguyễn Công Truyền sinh năm 989 tai làng Đại Bái, mất ngày 29/9 âm lịch (tức là năm 1060). Xuất thân trong một gia đình nho học, năm 995 lúc nên 6 tuổi ông theo cha mẹ vào Thanh Nghệ để sinh sống(Nay làng đó cũng gọi Là làng Đại Bái, làng Bưởi và cũng làm nghề Đúc Đồng), khi lớn lên ông vào quân ngũ. Năm 25 tuổi ông làm quan Đô uý của triều Lý, được phong là Điện tiền tướng quân. Đến tháng 3/1018 ông về Đại Bái thăm họ hàng, quê hương. Sau khi Cha của ông qua đời tại Thanh nghệ, ôngxin từ quan và đưa mẹ về quê cũ phụng dưỡng và từ đó ông bắt đầu tổ chức sản xuất lớn hơn. Ông cho đón lò rèn về tại làng để sửa chữa nông cụ sản xuất như búa, đe, lò bễ .v.v. Nhờ những công cụ nông nghiệp đã được cải tiến nên việc sản xuất được phát triển mạnh hơn. Đến thế kỷ thứ XV, XVI, làng có 5 ông tiến sỹ : Nguyễn Viết Lai, Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Viết Thái, Phạm Ngọc Thanh, Nguyễn Công Tám. Sau khi được phong quan, về làng, các ông chú ý việc tổ chức và mở rộng sản xuất đăch biệt là việc phân công chuyên môn hoá ngành nghề, đã thành lập các phường sản xuất riêng từng loại mặt hàng như: Phường chuyên gò nồi đồng, phường làm mâm, phường làm ấm, phường làm chậu thau, phường làm thau lá, rút dây đồng làm hàng bạc và một phường hàng chợ chuyên mua bán để cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ hàng hoá. Mỗi phường đều tập trung một xóm để tiện việc sản xuất và sinh hoạt hàng ngày. Nhờ có sự tổ chức hoàn chỉnh đã giúp cho Đại Bái nhanh chóng phát triển với ngành nghề Đúc đồng, gò đồng với sự nâng cao rõ rệt về kỹ thuật luyện đồng: Lấy đất xét bờ sông xây ò đúc, lấy bùn ao nhài với tro trấu làm nơi luyện đồng, đồng pha kẽm làm đồng thau và sáng chế ra thuốc hàn đồng...

Ngày nay, làng Đại Bái tiếp tục phát triển và gìn giữnghề truyền thống với những hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh cùng sự cải tiến kỹ thuật, tự trang, tự chế ra máy móc như máy cán, máy dập, máy dánh bóng...tìm kiếm thị trường xuất khẩu.

Theo: maxreading.com

22 thg 10, 2010

Bắc Ninh - Làng dệt Hồi Quan

22 thg 10, 2010 - by Ana · - 0 Comments

Làng dệt Hồi Quan

Từ Hà Nội, qua cầu Chương Dương qua Quốc Lộ 1 A, 1 B khoảng 20 km rẽ trái theo con đường đất khoảng chừng hơn 1km, chúng ta tới với làng dệt Hồi Quan, xã Tương Giang (Từ Sơn). Đất Hồi quan tự hào có dòng sông Tiêu Tương thơ mộng chảy qua một thời, tuy nhiên ngày nay dòng sông xưa đã thành ruộng, thành đường của xã Tương Giang, người dân vẫn nghe văng vẳng tiếng sáo Trương Chi trong hoài niệm gợi lại mối tình giữa chàng với nàng Mỵ Nương qua câu ai oán.

" Nợ tình chưa trả cho ai

Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan"

Ẩn sau luỹ tre làng là một báu vật truyền thống đến nay vẫn còn được gìn giữ và phát triển, đó chính là nghề dệt Hồi Quan.

Đến với Hồi Quan, bước tới cổng làng đã tạo cho du khách sự thoải mái của làng xã Việt Nam. Từ dây, con đường lớn lát gạch chỉ đã mòn đi theo thời gian, nét độc đáo của các làng cổ Bắc Bộ còn lại, đi sâu vào từng xóm ngõ chúng ta nghe rộn rã tiếng thoi đưa của các khung cửi vang vang từ những nếp nhà cổ kính, những mái ngói rêu phong làm ta lắng đọng tâm hồn.

Làng Dệt Hồi Quan hiện nay có khoảng 898 hộ (3.650 khẩu) thì có tới 90% làm nghề dệt, trong đó chiếm khoảng 10 % là các hộ sản xuất lớn.

Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, nghề dệt có từ bao giờ và do ai truyền lại đến nay vẫn là một câu hỏi, chỉ biết rằng, từ lâu lắm rồi người làng Hồi Quan rất thạo nghề canh cửu. Trước cách mạng tháng 8, hầu như nhà nào cũng có một khung cửu, nhà nhiều có tới 5-6 khung và phải thuê thợ đến làm. Sản phẩm chính của làng nghề này là vải khổ hẹp (40cm), vải màn, đũi, khăn mặt...Với nghề dệt, làng xóm quanh năm nhộn nhịp, rộn tiếng thoi đưa, mọi người sống chan hoà vì nhau hơn. Từ sáng đến tối nhân lực được huy động tối đa cho sản xuất, mỗi người một việc, năng động, nhiệt tình, khéo léo và cần cù, vợ ngồi dệt vải hay ra chợ bán, chồng thì mắc, kẹo, đậu; người già, trẻ nhỏ thì quay ống, đến khi màn đêm buông xuống cả nhà mới ngưng tay chính, trả thế mà có câu ca:

" Hồi Quan là đất cửi canh

Đến xâm xẩm tối sắp sanh chơi bời"

Sự tảo tần sớm hôm của người Hồi Quan đã giữ được nghề truyền thống, tạo ra thu nhập đáng kể cho xã hội, kinh tế gía đình ngày càng nâng lên.

Đến với Hồi Quan, du khách đến với làng văn hoá mà từ đời vua Tự Đức (1872) đã ban biểu " Mỹ tục khả phong" (Làng có tục đẹp đáng biểu dương) đến với tiếng thoi đưa rộn rã, chứng kiến sự cần cù sớm hôm của người dân nơi đây nhằm tạo ra những sản phẩm có nhất lượng cao nhất phục vụ người tiêu dùng gần xa.

An Giang - Làng dệt thổ cẩm Châu Giang

- by Ana · - 0 Comments

Làng dệt thổ cẩm Châu Giang thuộc xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Làng đã nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm từ xưa.

Thổ cẩm Châu Giang không những mang nét đẹp truyền thống của thổ cẩm mà còn mang nét đặc sắc của văn hoá Chăm – với các đường nét lạ độc đáo với nhiều loại thổ cẩm đa dạng như: xàrông, khăn choàng, nón, áo khoác…

Thổ cẩm Châu Giang là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, hấp dẫn người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Blogroll

VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

Vanhoanguoiviet.com muốn gửi tới cho các bạn phong tục, tập quán,làng nghề, trang phục cũng như món ăn cổ truyền của người Việt từ xưa tới nay.

Được phát triển bởi Nguyễn Hiền|