Bài viết mới đăng
Trang chủ » Bạn đang xem tại danh mục: Bảo Tồn
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bảo Tồn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bảo Tồn. Hiển thị tất cả bài đăng
20 thg 3, 2014
Lễ hội Tây Thiên, Chử Đồng Tử
- Tiên Dung hay kén rể chỉ là ba trong số hàng chục lễ hội đặc sắc và
độc đáo sẽ được tổ chức vào tháng 3 này.
Dù đã hết "tháng ăn chơi" nhưng bạn vẫn có thể hòa vào không khí vui
tươi, rạo rực của các lễ hội tháng 2 âm lịch (tức tháng 3 dương) dưới
đây.
Hội đền Vua Bà, Bắc Ninh
Đây là lễ hội lớn nhất của thôn Viêm Xá (tức làng Diềm, xã Hòa Long,
thành phố Bắc Ninh), nhằm thể hiện sự tri ân, biết ơn với Đức Vua Bà –
người đã khai sinh ra làn điệu Dân ca Quan họ Bắc Ninh. Đền Vua Bà năm
nay khai hội vào ngày 6/3 (tức 6/2 âm lịch), bắt đầu bằng màn trống hội
tưng bừng, nghi thức chạy cờ... và diễn lại tích “ Bà Chúa phát lệnh mở
hội Xuân”. Tại lễ hội cũng diễn ra các hình thức hát quan họ: dưới
thuyền Rồng, trong Đền Vua Bà, Đền Cùng, trên sân khấu trung tâm lễ hội,
trong các gia đình…
Đến lễ hội du khách sẽ được nghe những làn điệu quan họ mượt mà.
|
Hội Tây Thiên, Vĩnh Phúc
Thiền viện Tây Thiên là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng ở Tam Đảo, Vĩnh
Phúc. Với danh xưng đất Phật và đất Mẫu, lại được bao bọc bởi thiên
nhiên, mây trời hùng vĩ, Thiền viện quanh năm thu hút du khách đến hành
hương, vãn cảnh. Tuy nhiên, nếu bạn muốn được hòa mình vào không khí lễ
hội của Thiền viện Tây Thiên hãy đến đây vào rằm tháng 2 âm lịch, tức
15/3. Đặc biệt, trong mùa lễ hội năm nay, tại đây còn diễn ra các chương
trình hầu đồng để phục vụ du khách.
Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung, Hưng Yên
Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung (hay còn gọi là lễ hội tình yêu) diễn ra
vào ngày 10-12/2 âm lịch hàng năm ở đền Đa Hòa (xã Bình Minh) và đền
Hóa (xã Dạ Trạch), huyện Khoái Châu, Hưng Yên. Đây là một trong 16 lễ
hội lớn nhất cả nước, gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung. Tại
lễ hội sẽ có các sinh hoạt văn hóa đặc sắc như: lễ rước nước trên sông
Hồng; các trò chơi dân gian trong phần hội như bịt mắt bắt dê, đu cây...
Hội làng Bát Tràng, Hà Nội
Được tổ chức ngày 14-16/2 âm lịch tức (14-16/3), lễ hội làng Bát Tràng
là dịp tôn vinh nghề gốm truyền thống và dâng lễ lên các vị Thành hoàng
làng cầu xin ấm no, hạnh phúc cho dân làng. Đến với làng Bát Tràng,
huyện Gia Lâm những ngày này, du khách sẽ được chứng kiến các nghi lễ
cúng tế trang trọng và tham gia các trò chơi dân gian vui nhộn như đánh
cờ tướng, cờ người, kéo co, chọi gà, bịt mắt đập niêu,… biểu diễn văn
nghệ tại đình. Cũng tại đây, du khách sẽ có cơ hội thưởng lãm và mua sắm
các sản phẩm gốm của Bát Tràng.
Lễ hội kén rể, Hà Nội
Lễ hội kén rể làng Đường Yên là một trong những lễ hội dân gian độc đáo
của huyện Đông Anh, Hà Nội. Được tổ chức vào ngày 2/2 âm lịch (tức
2/3), lễ hội là dịp để tưởng nhớ ngày sinh của bà Lê Hoa, một nữ tướng
của Hai Bà Trưng, và sự kiện bà kén người tài làm chồng sau khi thắng
giặc về làng. Ngoài phần lễ, phần hội kén rể có nhiều phần chơi như: múa
rối, phỗng ngồi, thi cày, thi câu ếch, thi chõng chó, thi bắt trạch...
rất độc đáo và thu hút du khách tham gia.
Sau 60 năm thất truyền, lễ hội Kén rể Đường Yên được phục dựng từ năm 2001. Ảnh: dangcongsan.
|
Lễ hội Quán Thế Âm, Đà Nẵng
Lễ hội năm nay sẽ diễn ra trong 3 ngày, 17-19/3 (tức 17-19/2 âm lịch)
tại chùa Quán Thế Âm, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng. Đây là dịp để khơi dậy
truyền thống lịch sử, cội nguồn dân tộc, tinh thần đấu tranh quật cường
dựng nước, giữ nước của dân tộc cũng như lòng từ bi hỷ xả, hướng thiện.
Đến với lễ hội, du khách còn được tham gia hội hoa đăng, đua thuyền
truyền thống, triển lãm thư pháp, chơi hô hát Bài Chòi và xem các màn
biểu diễn võ thuật truyền thống.
Lễ hội Bà Thu Bồn, Quảng Nam
Lễ hội được tổ chức hàng năm vào ngày 12/2 âm lịch tại xã Duy Tân,
huyện Duy Xuyên, Quảng Nam để tỏ lòng thành kính, biết ơn sự che chở của
bà Thu Bồn, đồng thời thể hiện tinh thần đoàn kết các dân tộc Chăm, Cơ
Tu, Kinh sinh sống vùng thượng lưu sông Thu Bồn, Vu Gia (Quảng Nam).
Ngoài phần tế lễ còn có đua thuyền, thả hoa đăng và hát bội... khiến con
sông Thu Bồn như cuộn sóng bởi tiếng hò reo của người xem từ hai bên
bờ.
Lễ hội làng Rèn, Bình Định
Để nhớ ơn người khai sinh làng Rèn, cứ đến ngày 12/2 âm lịch, người Tây
Phương Danh (thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn) lại tổ chức lễ hội để quy
tụ những thợ rèn ở địa phương và các vùng lân cận. Sau lễ cúng tổ và
khấn nguyện quốc thái dân an là các hoạt động văn hóa sôi nổi như hát bộ
truyền thống, trò chơi dân gian (kéo co, đập ấm...)
Hội miếu ông Địa, TP HCM
Đây là lễ hội tiêu biểu cho các lễ hội miếu ở TP HCM và Nam Bộ với các
nghi thức: “gióng trống khai trang” thông báo vào lễ, “mời trầu” bằng
điệu hát bóng rỗi để thỉnh thần về dự lễ, diễn tuồng hài “Địa Nàng” với
nhân vật ông Địa và nàng tiên mang nội dung phê phán thói hư tật xấu
trong xã hội hương thôn xưa. Năm nay, lễ hội được tổ chức vào ngày 3/2
(tức 2/2 âm lịch) tại 125 đường Lê Lợi, phường 3, quận Gò Vấp.
Lễ hội Nghinh Cô, Bà Rịa Vũng Tàu
Dinh Cô tại thị trấn Long Hải. Ảnh: congdoanbrvt
|
Đây là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân ven biển Nam Bộ với
sự kết hợp độc đáo của lễ hội Cầu ngư, tục thờ cúng Thần Biển và tín
ngưỡng thờ mẫu của người dân địa phương. Lễ hội năm nay diễn ra vào ngày
10-12/3 (tức 10-12/2 âm lịch) tại đền Dinh Cô, thị trấn Long Hải, huyện
Long Điền, Bà Rịa - Vũng Tàu. Điểm hiếm thấy tại lễ hội Nghinh Cô so
với các lễ hội ở đây là du khách sẽ được chứng kiến lễ phóng sinh. Thi
thuyền thúng, bắt cá, bắt lươn cũng làm cho lễ hội thêm phần sôi nổi và
náo nhiệt.
Vy An
12 thg 11, 2013
|
|
Sự hình thành chữ Quốc ngữ có thể chia ra làm ba thời kỳ :
* Thời kỳ sáng tạo từ năm 1621.
* Thời kỳ xây dựng năm 1651.
* Thời kỳ phát triển từ năm 1867.
Chúng ta biết rằng, khoảng giữa thế kỷ XVI, lúc ấy nước ta chia thành Nam, Bắc triều. Năm 1533, có giáo sĩ Irigo (I-Nê-Khu), người Âu, theo đường biển vào nước ta ở Đàng Ngoài, tại Nam Định để giảng đạo. Năm 1596, giáo sĩ Diago Advarte đến Đàng Trong ở một thời gian rồi bỏ đi, cho đến năm 1615, giáo sĩ Francesco Buzomi đến lập Giáo Đoàn Đàng Trong (Mission de la Cochinchine), đến năm 1627, giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) mới lập Giáo Đoàn Đàng Ngoài (Mission de Tonkin).
Cả hai giáo đoàn nầy đều thuộc Dòng Tên, có một trung tâm truyền giáo ở Áo Môn (Macao - Trung Quốc), vì trước kia người Bồ Đào Nha sang Trung Hoa buôn bán, họ ở bán đảo Schangch'nan thuộc Quảng Châu, vào khoảng năm 1557, có bọn cướp biển trú ẩn ở Áo Môn, thường hay khuấy nhiễu Quảng Châu, nên người Trung Hoa nhờ các thương gia Bồ Đào Nha dẹp bọn cướp biển ấy, sau khi dẹp xong bọp cướp, người Bồ Đào Nha xin phép nhà cầm quyền Trung Hoa cho họ trú ngụ ở bán đảo Schangch'nan và Áo Môn, mỗi năm họ đóng thuế cho chánh quyền Trung Hoa, cho đến thế kỷ XX Áo Môn vẫn còn thuộc Bồ Đào Nha.
Thuở đó, các nhà truyền giáo Tây phương muốn sang Viễn đông, họ đều theo các thương thuyền Bồ Đào Nha, cho nên họ chọn Áo Môn làm trung tâm truyền giáo để hoạt động ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam, nơi ấy có cả một Viện thần học " Madre de Dieux " (Mẹ Đức Chúa Trời).
Do đó các giáo sĩ người Âu thường từ Áo Môn sang Đàng Ngoài hay Đàng Trong và ngược lại, họ thường dùng ngôn ngữ Bồ Đào Nha để giao dịch với nhau, những phúc trình truyền giáo hay thư từ gửi về La Mã có khi họ viết chữ Bồ, có khi họ viết chữ La Tinh.
I.- Thời Kỳ Sáng Tạo Chữ Quốc Ngữ
Thật vậy, tại Trung Hoa, Hoa ngữ được các nhà truyền giáo dùng mẫu tự La Tinh phiên âm trước nhất, công việc nầy do hai giáo sĩ Dòng Tên là Micac Ruggieri và Matteo Ricci đã soạn quyển Ngữ vựng hay Tự vựng Bồ-Hoa, quyển nầy mỗi trang chia làm 3 cột : chữ Bồ, chữ Hán, phiên âm Hoa ngữ, tài liệu nầy soạn khoảng năm 1584-1588, bảng viết tay còn lưu trử tại văn khố Dòng Tên ở La Mã (Rome).
Năm 1598, giáo sĩ Ricca và Cateneo đã dùng ký hiệu để ghi các thanh Hoa ngữ.
Tại Nhật Bản, các tác phẩm chữ Nhật đã được La tinh hóa, từ năm 1592 đến năm 1596 có đến 10 tác phẩm loại nầy được in ra, hai tác phẩm quan trọng sau đây đáng được nhắc đến:
1) Cuốn Giáo lý ghi bằng tiếng Nhật theo mẫu tự La Tinh có tên là : Dotrina Jesus no Compania no Collegio Amacusa ni voite superiores no vou xi no comuni core no fan to nasu mono nari, Nengi, 1592.
2) Cuốn tự điển La - Bồ - Nhật: Dictionarium latino lusitanicum ac Japonium (In Amacusa in Collegia Japonico Societa Jesus, Anno 1595)
Ngoài ra còn có sách ngữ pháp Nhật được in theo mẫu tự a, b, c vào năm 1603-1604.
Tại Việt Nam, thời kỳ sáng tạo chữ Quốc ngữ có thể chia ra làm 2 giai đoạn :
* Giai đoạn phiên âm.
* Giai đoạn cấu tạo câu.
1.- Giai đoạn phiên âm.
Về nguồn gốc, có lẽ câu sau đây là một dòng chữ xuất hiện đầu tiên, trong tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ.
" Con gno muon bau tlom laom Hoalaom chian ".
Câu nầy, theo giáo sĩ Christofora Borri ( 2 ), là câu mà các giáo sĩ đàng trong đã dùng trước khi ông có mặt tại đây, nó có nghĩa là : Con nhỏ muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng ?
Danh từ Hoa Lang, không rõ do đâu mà có, nhưng đó là danh từ do người Việt Nam thời bấy giờ dùng để chỉ cho người Bồ Đào Nha, và sau đó được dùng để gọi chung các nhà truyền giáo Tây Phương. Như vậy câu trên là câu các nhà truyền giáo Tây phương muốn hỏi một người Việt rằng : " Muốn vào đạo Thiên chúa chăng ? " Vì lẽ câu nói không diễn tả được rõ ý nên Linh mục Buzomi đã sữa lại như sau : " Muon bau dau Christiam chiam ? " ( Muốn vào đạo Christiang chăng ?).
Đây là câu trích trong quyển sách của Christoforo Borris xuất bản năm 1631 tại La Mã, viết bằng chữ Ý ( 3 ). Tuy vậy, chúng ta có thể coi những chữ phiên âm trong sách nầy đã được ông dùng trong thời gian từ 1618 đến 1621, là thời gian ông sống ở Đàng Trong.
Phiên âm : Nghĩa
Anam : An Nam
Tunchim : Đông Kinh
Ainam : Hải Nam
Kemoi : Kẻ mọi
Cacciam : Cả chàm (Kẻ Chàm)
Sinunua : Xứ Hóa ( Thuận Hóa)
Quamguya : Quảng Nghĩa
Quignin : Qui Nhơn
Dàdèn, lùt : Đã đến lúc
Dàdèn lùt : Đã đến lúc
Scin mocaij : Xin một cái
Chià : Trà
Cò : Có
.......
Onsaij : Ông sãi
Quanghia : Quảng Nghĩa
Nuoecman : Nước mặn
Da, an, nua : Đã ăn nữa,
Da, an, het : Đã ăn hết
Omgne : Ông nghè
Tuijciam,biet: Tui chẳng biết
Onsaij di lay : Ông Sãi đi lại
Bàncò : Bàn Cổ
Maa : Ma
Maqui, Macò : Ma quỉ, ma quái
Bũa : Vua
Chiuna : Chúa
Bản phúc trình của Linh mục João Roig viết bằng chữ Bồ Đào Nha tại Áo Môn ngày 20-11-1621, để gửi về La Mã, trong ấy có phiên âm vài danh từ như sau :
An nam : An Nam
Sinoa : Xứ Hóa
Usai : Ông Sãi
Ungne : Ông nghè
On trũ : Ông trùm
Ca cham : Ca chàm ( kẻ chàm, tức Thanh Chiêm, thủ phủ Quảng Nam Dinh, thời ấy dân chúng gọi là Cả Chàm hay Dinh Chàm)
Nuocman : Nước Mặn
Bafu : Bà phủ
Sai Tubin : Sãi Từ Bình ( ? )
Banco : Bàn Cổ
Oundelinh : Ông Đề Lĩnh
Cùng năm ấy, Linh mục Gaspa Luis cũng viết một bảng tường trình bằng La văn tại Áo Môn ngày 12-12-1621 gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi ở La Mã, để báo cáo về giáo đoàn Đàng Trong, trong ấy có dùng vài phiên âm :
Cacham : Kẻ chàm
Nuocman : Nước Mặn
Ongne, Ungué : Ông nghè
Bancô : Bàn Cổ
Đến ngày 16-6-1625, giáo sĩ Đắc Lộ có viết một lá thư bằng Bồ văn gửi cho Linh mục Nuno Mascarenhas, trong ấy có vài phiên âm :
Ainão : Hải Nam
Tunquim, Tunquin : Đông Kinh
Thêm một tài liệu khác Gaspar Luis viết bằng La văn ngày 1-1-1626 tại Nước Mặn để gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi ở La Mã, trong ấy có phiên âm một số địa danh và danh từ:
Fayfó : Hải phố (Fayfo : Hội An)
Cacham : Kẻ chàm
Nuocman : Nước Mặn
Pullocambi : ?
Dinh cham : Dinh chàm
Quanghia : Quảng Nghĩa
Quinhin : Qui nhơn
Ranran : Ran ran ( tức là sông Đà Rằng ở Phú Yên)
Bendâ : Bến đá
Bôdê : Bồ đề
Ondelimbay : Ông Đề Lĩnh Bảy
Ondedoc : Ông Đề đốc
Unghe chieu : Ông nghè Chiêu
Nhit la khaun, khaun la nhit : Nhứt là không, không là nhứt
Và Linh mục Antonio de Fontes người Bồ Đào Nha, đã có đến ở Đàng Trong năm 1624 và Dinh Chàm với Linh mục Pina và Đắc Lộ, cũng ngày 1-1-1626, Linh mục Fontes viết tại Hội An một bản tường trình bằng Bồ văn gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi là Bề Trên Cả Dòng Tên ở La Mã, bảng tường trình nầy gồm có 3 phần, trong ấy cũng cho chúng ta biết thuở ấy giáo đoàn Đàng Trong có 3 cơ sở: Hội An, Kẻ Chàm (Quảng Nam) và Nước Mặn (Qui Nhơn). Trong bảng tường trình nầy, có các phiên âm :
Digcham : Dinh Chàm
Nuocman : Nước Mặn
Quinhin : Qui Nhơn
Sinua, Sinuâ : Xứ Hóa
Orancaya : ?
Quan : Quảng (Quảng Nam)
Xabin : Xá Bình ?
Bếndá : Bến đá
Bude : Bồ đề
Ondelimbay: Ông Đề Lĩnh Bảy
Ondedóc : Ông đề đốc
Onghe Chieu : Ông nghè Chiêu
Nhít la khấu, khấu la nhít : Nhứt là không, không là nhứt
Dinh Cham : Dinh Chàm
Sinóa : Xứ Hóa
Ngày 13-7-1626, Linh mục Francesco Buzomi viết một lá thư chữ Ý gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi, cách phiên âm có tiến triển phần nào, vì các danh từ ghi theo đơn âm như ngày nay, các chữ phiên âm trong bức thư nầy gồm có:
Xán tí : Xán tí (Thượng đế)
Thiên chu : Thiên chủ (Thiên chúa)
Thiên chũ xán tí : Thiên chủ thượng đế
Ngaoc huan : Ngọc hoàng
Cho đến năm 1631, có thêm hai tài liệu của Đắc Lộ: một vào ngày 16-1-1631, ông có viết một bức thư gửi cho Linh mục Nuno Mascarenhas ở La Mã , trong ấy chỉ tìm thấy có một chữ phiên âm Thinhũa : Thanh Hóa, và một bản văn khác thuật lại việc ông cùng Linh mục Pedro Marques tới cửa Bạng (Thanh Hóa) vào ngày 19-3-1627 cho đến lúc Linh mục Antonio F. Cardin đến Thăng Long ngày 15-3-1631 (trong chuyến đi ấy, có các Linh mục Gasparo d'Amiral, André Palmeiro, Antonio de Fontes), tài liệu nầy gồm 2 trang rưỡi chữ, viết trên giấy khổ 16 x 23 cm, trong ấy chỉ phiên âm có mấy chữ :
Sinoa : Xứ Hóa (thuận Hóa)
Anná : An nam
Sai : Sãi
Mía : Mía ( nhà tạm trú)
Những tài liệu phiên âm trên, cho chúng ta thấy phần nào sự manh nha hình thành chữ Quốc Ngữ trong các năm từ 1621 đến năm 1631. Trong mười năm đó, chúng ta thấy sự phiên âm không mấy tiến triển, chưa có sự thống nhất nào cả, chẳng hạn như danh từ xứ Hóa, họ đã phiên âm :
Sinoa (Jão Roig 20-11-1621)
Sinua, Sinuâ, Sinoá (Antonio de Fontes 1-1-1626)
Sinoa (Đắc Lộ 1631)
Danh từ Ông Nghè :
Omgne (Christoforo Borri 1618-1621)
Ungne (Jão Roig 20-11-1621)
Ongne, Ungué ( Gaspar Luis 12-12-1621)
Unghe (Gaspar Luis 1-1-1626)
Onghe (Antonio de Fontes 1-1-1626)
2.- Giai Đoạn Cấu Tạo Câu.
a.- Sự đóng góp của Gasparo d'Amiral
Giai đoạn kế tiếp được coi như khởi sự từ năm 1632 với những phiên âm của Gasparo d'Amiral, trong giai đoạn nầy, chúng ta thấy vai trò đóng góp cho sự hình thành chữ Quốc ngữ của Gasparo d'Amiral rất quan trọng, ông phiên âm có phương pháp. Tài liệu dẫn sau đây cho chúng ta thấy rõ Đắc Lộ đã theo phương pháp của ông để phiên âm trước khi dựa vào quyển tự điển Bồ Đào Nha - Annam cũng của ông, để Đắc Lộ soạn quyển tự vị "An Nam - Bồ Đào Nha - La Tinh "
Để hiểu rõ điều chúng tôi vừa đề cập tới, không gì hơn là chúng ta nhìn lại cuộc đời và vết đi của họ, chúng ta sẽ thấy ảnh hưởng của Gasparo d'Amiral đối với Đắc Lộ.
Gasparo d'Amiral sinh năm 1592 tại Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên ngày 1-7-1608, ông đã làm giáo sư dạy La văn, Triết học, Thần Học tại các học viện và đại học Evora, Braga, Coinbra ở Bồ Đào Nha.
Năm 1623, Gasparo d'Amiral đến Áo Môn, vào tháng 10 năm 1926, ông cùng với Thầy Paulus Saito (1577-1633 người Nhật) đến Đàng Ngoài cho đến tháng 5 năm 1630 cả hai cùng với Linh mục Đắc Lộ và Pedro Marques về Áo Môn. Ngày 18-2-1631 Gasparo cùng 3 Linh mục khác là André Palmeiro, Antonio de Fontes và Antonio F. Cardim từ Áo Môn đáp tàu Bồ Đào Nha đến cửa Bạng (Thanh Hóa) và đến ngày 15-3-1631, các Linh mục nầy mới đến Kẻ Chợ (Thăng Long).
Sau đó Linh mục Palmeiro và Fontes trở về Áo Môn còn Amiral và Cardim ở lại tiếp tục công cuộc truyền giáo tại Đàng Ngoài. Năm 1638, Linh mục Amiral được gọi về giữ chức Viện Trưởng Viện thần học tại Áo Môn, như vậy ông đã ở Đàng Ngoài được 7 năm.
Đến năm 1641, ông được cử làm Phó Giám Tỉnh Dòng Tên hai tỉnh Nhật và Trung Hoa (gồm các nước Nhật, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan và Trung Hoa - Áo Môn, Quảng Đông, Quảng Tây). Năm 1645, ông đáp tàu từ Áo Môn đi Đàng Ngoài, khi tàu đến gần đảo Hải Nam bị đắm, do đó ông bị chết đuối vào ngày 23-12-1645.
Trong 7 năm ở Đàng Ngoài, Gasparo d'Amiral còn để lại 2 tài liệu liên quan đến chữ Quốc Ngữ. Tài liệu 1, ông viết bằng Bồ văn tại Kẻ Chợ vào ngày 31-12-1632 nhan đề: " Annua do reino de Annam do anno de 1632, pera o Pe André Palmeiro de Compa de Jesu, Visitator das Provincias de Japan, e China " ( Bảng tường trình hàng năm về nước An nam năm 1632, gửi cha André Palmeiro, Dòng Tên, giám sát các tỉnh Nhật và Trung Hoa). Tài liệu nầy hiện lưu trử tại văn khố Dòng Tên La Mã, trong đó có một số phiên âm như sau:
Tun kim : Đông Kinh, chỉ cho xứ An Nam
Đàng tlão : Đàng Trong
Đàng ngoày : Đàng Ngoài
Đàng tlên : Đàng trên
Oũ nghe : Ông nghè
nhà thượng dày: nhà thượng đài
nhà ti, nhà hién : nhà ti, nhà hiến
nhà phũ : nhà phủ
nhà huyẹn : nhà huyện
oũ khơũ : Ông Khổng ( Khổng Phu Tử)
Đức laõ : Đức Long; niên hiệu Đức Long (1629-1634)
Vĩnh Tộ : Vĩnh Tộ; niên hiệu Vĩnh Tộ (1620-1628)
Bua : Vua
Tế Kì đạo : Tế kỳ đạo
Đức vương : Đức Vương
Chúa oũ : Chúa Ông ( tức Trịnh Tráng)
Chúa tũ, chúa dũ, chúa quành : Chúa Tung (Trịnh Vân; Tung Quận Công)
Chúa Dũng (Trịnh Khải; Dũng Quận Công)
Chúa Quỳnh ( Trịnh Lệ; Quỳnh quận công)
Chúa cả : Chúa cả (Trịnh Tạc, vào thời nầy Đàng Ngoài có 5 chúa là : Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Vân, Trịnh Khải, Trịnh Lệ mà chỉ 2 chúa có quyền hành mà thôi)
Thanh đô vương : Thanh Đô Vương
Chúa triết : Chúa Triết (Trịnh Tùng)
Kẻ chợ : Kẻ Chợ (Thăng Long)
yêu nhău : yêu nhau
oũ phô mả liêu : Ông Phò Mã Liêu (con rễ Trịnh Tráng)
Đàng Ngoằy : Đàng Ngoài
Quãng : Quảng
Tàm đàng : Tàm Đàng
Bên đoũ đa : Bên Đống Đa
tày : Tầy
lằng bôũ bàu : làng Bông Bầu
Cô bệt : Cô Bệt
Tri yếu : Tri yếu
kẻ hằii : kẻ hầu
ăn dương huyẹn : An Dương huyện
coũ thằn : công thành
Thíc ca : Thích Ca ( Phật)
Phổ lô xã : Phổ lô xã
Sãy uãy : Sải vải
Hộy ăn xả : Hội An xã
huyẹn uịnh lạy : huyện Vĩnh Lại
Thầi uăn Chật : Thầy Văn Chật
làng Kẻ tranh xuyên : Làng Kẻ Tranh Xuyên
Kẻ trãng : Kẻ Trang
Sấm phúc xả : Sấm Phúc xã
Nghỹa ăn xả : Nghĩa An xã
huyẹn bạyc hặc : Huyện Bạch Hạc
thầi phù thủi : Thầy phù thủy
Oũ jà nhạc : Ông già Nhạc
Oũ phu mã kiêm : Ông Phò mã Kiêm
bà : bà (?)
chúa bàng : chúa Bằng
thăn khê : Thanh Khê
hàng bè : hàng Bè
hàng bút : hàng Bút
cữa nam : cửa Nam
kẻ ăn lẵng : kẻ An lãng
hàng nấm : hàng nắm
đinh hàng : Đinh hàng
càii iền : Cầu Yên
hàng thuõc : hàng thuốc
oũ đô đốc hạ : Ông Đô Đốc Hạ
Oũ phũ mã nhăm : Ông Phò mã Nhâm
Oũ chưỡng hương : Ông chưởng Hương
Thầi : Thầy
đức oũ hồe : Đức ông Huề
thuyèn thũỉ : thuyền thủy
Quãng liẹt xã : Quãng liệt xã
giỗ : giỗ
chặp : chạp
mă : ma
kẽ uạc : kẻ Vạc
cỗ : cỗ
oũ chưỡng quế : ông chưởng Quế
tình : tình
nhũộn : nhuận
tháng : tháng
cốt bõý : cốt bói
Kẽ lăm huyẹn toũ sơn : kẻ Lâm, huyện Tống Sơn
Nghệ an : Nghệ An
Bố chính : Bố chính
thuặn hốe : Thuận Hóa
huyẹn nghi xuon : huyện Nghi Xuân
huyẹn Thinh Chương : huyện Thanh Chương
làng cầii : làng Cầu
nhà nga : nhà nga
đậii xá : đậu xá
vàng may : Vàng May
đức bà sang phú : đức bà sang phú
oũ bà phủ : ông bà phủ
kẽ mộc : kẻ Mộc
kẽ bàng : kẻ Bàng
an nam : An Nam
Tài liệu thứ hai cũng soạn bằng Bồ văn tại kẻ Chợ ngày 25-3-1637, có nhan đề: " Relacam dos Catequista da Christamdade de Tumk e seu modo de proceder pera o Pe Manoel Dias, Vissitador de Jappão e China " (Tường thuật về các Thầy giảng của giáo đoàn Đàng Ngoài và về cách thức tiến hành của họ, gửi cha Manoel Dias, giám sát Nhật Bản và Trung Hoa), tài liệu nầy hiện lưu trử tại Văn Khố Hàn Lâm Viện Sử Học Hoàng Gia Madrid Bồ Đào Nha. Gồm có một số phiên âm sau đây :
Sãy : Sãi
đức : đức
Chúa thanh đô : Chúa Thanh Đô
thầy : thầy
định : định
nhin : Nhơn (tên)
Nghệ an : Nghệ an
lạy : lạy
tri : Tri (tên)
bùi : Bùi (tên)
Quang : Quảng (tên)
tháng : Thắng (tên)
Coũ thàn : Công Thành
Sướng : Sướng (tên)
đàng ngoài : Đàng Ngoài
già : Già (tên)
Vó : Vó (tên)
nân : Nân (tên)
lồ : Lồ (tên)
đôủ thành : Đông thành (tên)
Kẻ chợ : Kẻ Chợ (tên)
Trong hai tài liệu nầy, tài liệu thứ nhất có gần 400 chữ phiên âm, chưa được thống nhất cách dùng mẫu tự ghi âm. Ví dụ :
Âm a ghi ă (Hội ăn xã) hay ghi a (Nghệ an)
Âm ò ghi ô (oũ phô mả liêu) hay ũ (oũ phũ mả kiêm)
Có một số âm, phụ âm, dấu giọng không như ngày nay :
Các âm â ghi ă (hàng nấm)
----------- ê - e (huyẹn, hién)
----------- y - i (thầi)
----------- o - õ (bõy)
--------- âu - ăii (hầu)
Các phụ âm : ng ghi ũ (oũ)
----------------- ch - yc (bạyc)
Các dấu giọng : ? ghi ~ (cữa nam, phũ)
------------------- ~ - ? (Sấm phú xả, Nghỹa ăn xả)
Tuy nhiên Gasparo d'Amiral cũng ghi được các âm như ngày nay :
a (nghệ an ) ă (hàng nắm) â (thầi)
ê ( nghệ) ô (giỗ) ơ (chợ)
i (nghi xuôn) u (yêu nhău) ư (thương, vương)
Có đủ dấu giọng:
không dấu (nam, đô)
� (Thíc ca)
` (thầi phù thũi)
? (chúa cả)
~ (giỗ)
. (vĩnh tộ)
Tài liệu thứ hai viết sau 5 năm, một số chữ viết ngày nay giống y như vậy: đức, chúa thanh đô, thầy, Nghệ an, lạy, định ... Do đó chúng ta thấy Gasparo d'Amiral ghi âm tiến bộ hơn các giáo sĩ khác, đó cũng là điều dĩ nhiên bởi vì từ tài liệu của Jão Roiz hay Gaspar Luis viết từ năm 1621, đến tài liệu thứ nhất của Gasparo d'Amiral có khoảng cách biệt trên 10 năm.
b.- Sự đóng góp của Linh mục Đắc Lộ.
Linh mục Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), người được Pháp đề cao đã sáng chế ra chữ Quốc Ngữ, mang lại sự khai hóa cho dân tộc Việt Nam, với chiêu bài nầy để che đậy hành động thực dân, xâm chiếm lãnh thổ và cai trị hà khắc dân tộc chúng ta. Để hiểu rõ vấn đề nầy, chúng ta cần lướt qua tiểu sử và hành trình truyền giáo của Đắc Lộ.
Đắc Lộ sinh ngày 15-3-1591 tại Comtat Venaissin, tỉnh Avignon, miền Nam nước Pháp, tổ tiên ông gốc Do Thái. Tổ phụ của ông đã di cư từ Tây Ban Nha sang Avignon vào giữa thế kỷ XVI, thân sinh ông là Benadin II de Rhodes, được liệt vào hàng thân hào, nhân sĩ trong vùng.
Đắc Lộ gia nhập Dòng Tên ở La Mã ngày 14-4-1612, học tập chuyên về thần học và toán học tại học viện Saint André du Quirinal, thụ phong linh mục tại La Mã năm 1618. Cũng trong năm nầy, ông được phép sang Đông Nam Á truyền giáo, ông đến Lisbonne thủ đô Bồ Đào Nha, rồi từ đây đáp tàu đi Áo Môn ngày 04-4-1619, vì có ghé qua Goa (Ấn Độ) nên ông đến Áo Môn ngày 29-5-1623, ông đặt chân lên Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1624 tại Đà Nẳng, cùng với các linh mục Gabriel de Mattos và một giáo sĩ Nhật.
Đắc Lộ đến cơ sở truyền giáo Thanh Chiêm thuộc Quảng Nam Dinh, nơi đây có Linh mục Francisco de Pina (sinh năm 1585 tại Bồ Đào Nha, đến Đàng Trong năm 1617 và chết đuối ở Quảng Nam năm 1625) và Antonio de Fontes (đến Đàng Trong tháng 12 năm 1624), tại đây Đắc Lộ học tiếng Việt với Francisco de Pina, tháng 7 năm 1626 ông rời Đàng Trong về Áo Môn, ngày 19-3-1627, ông cùng với Linh mục Pierre Marquez đến của Bang ( Thanh Hóa), ở đây, hai ông có yết kiến Trịnh Tráng, rồi sau đó theo chúa Trịnh ra Thăng Long, thời gian nầy hai Linh mục lập giáo đoàn Đàng Ngoài, tháng 5 năm 1630, chúa Trịnh cấm đạo, trục xuất các giáo sĩ, Đắc Lộ trở về Áo Môn.
Từ năm 1630 đến năm 1640, Đắc Lộ dạy thần học ở học viện thần học Áo Môn. năm 1640, ông được cử đến Đàng Trong làm Bề Trên, thay thế Linh mục Buzomi vừa từ trần tại Quảng Nam Dinh, ông ở đây cho đến ngày 3-7-1645, bị bắt buộc phải rời cơ sở truyền giáo Thanh Chiêm, theo lệnh của quan Cai bộ áp dụng án trục xuất các giáo sĩ của chúa Nguyễn. Kể từ đó, ông rời hẳn nước Việt Nam, trở lại Áo Môn ông dạy tiếng Việt ở Học viện Thần Học, ngày 20-12 năm 1645 ông đáp tàu từ Áo Môn đi Âu Châu, nhằm mục đích vận động thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam.
Ngày 16-11-1654,Toà thánh La Mã cử Đắc Lộ làm Bề Trên của phái đoàn truyền giáo ở Ba Tư. Đầu tháng 11-1655, ông đáp tàu từ Marseille đi Ispaham thủ đô Ba Tư, và tại đây ông đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 5 tháng 11 năm 1660.
Giai đoạn trước, giáo sĩ Đắc Lộ có để lại 3 tài liệu về chữ Quốc Ngữ vào năm 1625 và 1631 đã dẫn ở trên và giai đoạn sau nầy, ông cũng để lại 3 tài liệu khác viết vào các năm 1636, 1644, 1647.
Tài liệu năm 1634, viết tay có nhan đề: " Tunchinenois Historiae libri duo quorum altero status temporalis hujus Regni, altero mirabiles evangelicae praedications progressus refuruntur. Coeptae per Patres Societatis Jesu, ab Anno 1627 ad Annum 1636 " ( Lịch sử Đàng Ngoài và những bước tiến triển lớn lao mà phúc âm rao giảng đã làm ở nước nầy để cải hóa lương dân, từ năm 1627 đến năm 1636) Bản nầy ghi bằng La văn gồm 2 quyển, lưu trử tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã.
Các chữ phiên âm trong quyển một.
Tung : Đông
kin : kinh
Annam : An Nam
Ai nam : Hải Nam
Chúacanh : Chúa Canh
Che ce : kẻ Chợ (Thăng Long)
Chúa bàng : Chúa Bàng (đúng ra là Bình; Bình An Vương Trịnh Tùng)
Chúa õu : Chúa ông
Chúa thanh đô : Chúa Thanh Đô ( Thanh Đô Vương Trịnh Tráng)
uuan : vương
min : minh
bát min : bất minh
thuam : thuận
uan : văn
uu : vũ
gna ti : nhà ti
gna hien : nhà hiến
Cai phu : cai phủ
Cai huyen : cai huyện
Bua ; vua
den : đền
sin do : sinh đồ
huan cong : hương cống
tin si : tiến sĩ
tam iau : tam giáo
dạu nhu : đạo nhu (nho)
dạu thíc ; đạo thích
Thicca, Thic ca, Thiccả : Thích ca
Sai : Sãi
sai ca : Sãi cả
lautu : Lão tử
Giô : giỗ
Cu hồn : Cô hồn
ba hon : ba hồn
Chin via : Chín vía
dum : Đồng (tên)
Các chữ phiên âm trong quyển hai
Cửa bang : Cửa Bạng (Thanh Hóa)
Phạt : Phật
bụt : Bụt
dang : Đàng
ciiia oũ : chúa ông
ciiia ban uuan : chúa Bằng vương
ciii sai : chúa Sãi
ciii canh : chúa canh
thinh hoa : Thanh Hóa
thai : thầy
sai vai : Sãi Vãi
Che vich : kẻ vích (cửa Vích, cửa sông ở phía Bắc Thanh Hóa)
Che no : Kẻ Nộ
Gne an : Nghệ An
bochin : bố chính
Rum : Rum
kiemthuong : Kiêm Thượng
Phuchen : Phục chân
cà : Cà
cã : cả
cá : cá
tlẽ : trẻ
tle : tre
Tài liệu năm 1644, Đắc Lộ viết bằng Bồ văn tại Thanh Chiêm, nhan đề: " Relacão do glorioso Martirio de Andre Cathequista Protomartir de Cochinchiana alanceado, e degolado em Cachão no 26 de Julho de 1644 Tendo de Idade dezanove annos " ( Tường thuật cuộc tử đạo vinh hiển của Thầy giảng An-Rê, vị tử đạo tiên khởi ở Đàng Trong, đã bị đâm chém tại kẻ Chàm ngày 26-7-1644, tử đạo lúc 19 tuổi), tài liệu nầy có những chữ phiên âm và câu phiên âm :
Ounghebo, Oũnghebo : Ông Nghè Bộ
Giũ nghĩa cũ d chúa Jesu cho den het hoy, cho den blon doy : Giữ nghĩ cùng đức chúa Jesu cho đến hết hơi, cho đến trọn đời.
Tài liệu năm 1647, Đắc Lộ viết bằng La văn tại Macassar ngày 4-6-1647 có nhan đề : " Alexandre Rhodes è Societate jesu terra marique decẽ annorũ Itinerarium " ( Cuộc hành trình mười năm trên bộ, dưới biển của Đắc Lộ thuộc Dòng Tên), tài liệu nầy có các phiên âm như sau:
Ciam : Chàm
Ranran : Ran ran
Ké han : Kẻ Hàn
On ghe bo : Ông nghè Bộ
ke cham : kẻ Chàm
halam : Hà Lan
Cai tlam, Caitlam : Cát Lâm
ben da : Bến đá
Qui nhin : Qui Nhơn
Nam binh : Nam Bình
Bao bom : Bầu vom
Quan Ghia : Quảng Nghĩa
Nuoc man : Nước Mặn
bau beo : Bầu Bèo (?)
liem cum ; Liêm công
Quanghia : Quảng Nghĩa
Baubom : Bầu Vom
bochinh : Bố chính
Oũ ghe bo : Ông nghè Bộ
Sau khi đối chiếu tiểu sử của Gasparo d'Amiral và Đắc Lộ cùng các tài liệu phiên âm như trên, chúng ta có nhận định sau :
1) Linh mục Gasparo d'Amiral phiên âm có tự dạng gần với chữ Việt chúng ta viết ngày nay, hơn là các phiên âm của Đắc Lộ, thử so sánh :
Tài liệu Gasparo d'Amiral 1632 : Tài liệu Đắc Lộ 1636
----------------- Thanh đô vương -------- thanh đô
----------------- Nhà ti --------------------- gna ti
----------------- Nhà hién ----------------- gna hien
----------------- Nghệ ăn, nghệ an ------ Gne an
----------------- Bố chính ----------------- bochin
2) Gasparo d'Amiral phân biệt được một số dấu giọng như đã vạch ra ở phần trước, trong khi Đắc Lộ lại ít dùng dấu giọng.
3) Ngay trong cách phiên âm của Đắc Lộ, tài liệu sau phiên âm kém hơn tài liệu trước. Trái lại, Gasparo d'Amiral phiên âm tài liệu năm 1637 khá hơn tài liệu năm 1632.
Năm 1632, bảng tường trình của Gasparo d'Amiral gửi cho Linh mục André Palmeiro, giám sát các tỉnh Nhật, trung Hoa lúc đó Đắc Lộ cũng ở tại Áo Môn (1630-1640), là người tha thiết với các giáo đoàn truyền giáo tại Việt Nam, chắc chắn Đắc Lộ có xem qua bảng tường trình nầy.
Từ năm 1638-1645 Gasparo d'Amiral ở tại Áo Môn, như vậy họ đã có thời gian ở bên nhau 2 năm 1638-1640, rồi tháng 7 năm 1645 đến 20-12-1645 Đắc Lộ từ Việt Nam trở lại Viện Thần Học Áo Môn, phụ trách dạy tiếng Việt, còn Gasparo d'Amiral đã soạn quyển Tự vựng Việt La, như vậy cả hai có thêm thời gian ở bên cạnh nhau, lại cùng hoạt động chung bộ môn tiếng Việt, điều đó cho ta thấy chắc chắn Đắc Lộ có chịu ảnh hưởng của Gasparo d'Amiral về lãnh vực tiếng Việt.
Tài liệu Đắc Lộ viết năm 1647 tại Macassar, chứng tỏ rằng sau khi ông rời Việt Nam ngày 20-12-1645, ông vẫn chưa có được một hệ thống phiên âm vững chắc và gần gủi với chữ Quốc ngữ ngày nay.
c.- Sự đóng góp của Linh mục Antonio Barbosa
Antonio sanh năm 1594 tại ville de Arrifana de Sonza, Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên vào ngày 13-3-1624. Năm 1629, ông được cử đến truyền giáo ở Đàng Trong và đến tháng 4 năm 1636, ông có đến Đàng Ngoài truyền giáo. Cho đến tháng 5 năm 1642, vì lý do sức khỏe, ông phải trở về Áo Môn tịnh dưỡng. Cũng do tình trạng sức khỏe không tốt nên sau một thời gian tịnh dưỡng, ông rời Áo Môn đi Goa và ông đã từ trần trên đường đến Goa năm 1647.
Mặc dù ngày nay Antonio không có để lại tài liệu Quốc ngữ nào, nhưng Đắc Lộ đã cho biết : " Tôi lợi dụng công việc của các giáo sĩ khác cũng thuộc Dòng Tên, nhất là của Gasparo d'Amiral và Antonio Barbosa. Cả hai ông nầy, mỗi ông đều làm một cuốn tự điển. Ông Gasparo d'Amiral làm cuốn Annamiticum - Lusitanium; ông Antonia Barbosa làm cuốn Lusitanum - Annamiticum. Nhưng tiếc rằng cả hai ông đều chết sớm. Tôi lợi dụng công việc của cả hai ông viết ra cuốn tự điển mới, có chua thêm tiếng La tinh, mục đích để giúp người bản xứ học tiếng La tinh theo lệnh của các đức hồng y." ( 4 )
d.- Sự đóng góp của người Việt
Dù sao, khởi thủy chữ Quốc ngữ hình thành cũng nằm trong mục đích chánh là phương tiện truyền giáo cho các giáo sĩ thuộc Dòng Tên ở Việt Nam. Bên cạnh các giáo sĩ, giáo dân Việt Nam thời đó không nhiều thì ít cũng có đóng góp trong lúc hai linh mục Gasparo và Antonio soạn hai quyển tự điển của họ, điều đó tuy không có chứng cứ, nhưng theo suy luận hợp lý, cho phép chúng ta tin như vậy.
Ngoài ra trong thời kỳ nầy còn có tài liệu của 14 giáo dân Việt Nam ghi bằng chữ Quốc ngữ, về việc họ xác nhận tán đồng ý nghĩa mô thức rửa tội, do 31 linh mục Dòng Tên thảo luận ở Viện Thần Học tại Áo Môn năm 1645
Tài liệu nầy là một bản La văn do các linh mục Dòng Tên soạn, để trả lời cho Linh mục Sebastião de Jonaya, nhan đề: " Cirra formam Baptismi Annamico Idiomate prolatam' ( Chung quanh mô thức rửa tội bằng thổ ngữ An Nam). Phần chữ Quốc ngữ của 14 giáo dân Việt Nam ghi như sau:
" Nhin danh Cha uà con uà Su-phi-ri-to-sang-to í nài An-nam các bỏn đạo thì tin ràng ra ba danh ví bàng muốn í làm một thì phải nói nhin nhít danh cha etc.- tôy là Giu ão câi trâm cũ nghi bậi - tôy là An re Sen cũ nghi bậi - tôy là Ben tò vẫn triền cũ nghi bậi - tôy là Phe ro uẫn nhit cũ nghi bậi - tôy là An jo uẫn tãu cũ nghi bậi - tôy là Gi-ro-ni-mo cũ nghi bậi - tôy là I-na sô cũ nghi bậi - tôy là tho-me cũ nghi bậi - tôy là Gi-le cũ nghi bậi - tôy là lu-i-si cũ nghi bậi - tôy là Phi-lip cũ nghi bậi - tôy là Do-minh cũ nghi bậi - tôy là An-ton cũ nghi bậi - tôy là Giu ão cũ nghi bậi " ( nhân danh Cha và con và Su-phi-ri-to Sang-to Spirito Santo ý nầy An nam các bổn đạo thì tin rằng ra ba danh. Ví rằng muốn ý làm mộy thì phải nói : nhân danh Cha vân vân. Tôi là Giu an Cai (?) Trâm cũng nghĩ vậy - Tôi là An rê Sen cũng nghĩ vậy - Tôi là Ben tô Văn Triều cũng nghĩ vậy - Tôi là Phê rô Văn Nhất cũng nghĩ vậy - Tôi là An gio Văn Tang cũng nghĩ vậy - Tôi là Gi-rô-i-mô cũng nghĩ vậy - Tôi là Gi le cũng nghĩ vậy - Tôi là lu-i-si cũng nghĩ vậy - Tôi là Phi líp cũng nghĩ vậy - Tôi là Đô Minh cũng nghĩ vậy - Tôi là An ton cũng nghĩ vậy - Tôi là Giu an cũng nghĩ vậy).
Như thế, chúng ta thấy rõ đây là một bản văn Quốc ngữ của 14 người Việt Nam xác nhận mô thức rửa tội năm 1645 của các linh mục Dòng Tên và đây là tài liệu cho chúng ta thấy sự đóng góp của người Việt Nam trong tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ.
Qua so sánh, chúng ta có thể thấy rằng chữ Quốc ngữ năm 1645 chỉ giống chữ viết ngày nay khoảng 45%, và thời kỳ sáng tạo chữ Quốc ngữ khởi đầu từ năm 1621 đến đây đã chấm dứt, để chuyển sang thời kỳ kế tiếp.
Tưởng cũng nên nhắc lại, từ khi khởi đầu phiên âm cho đến khi hình thành chữ Quốc ngữ, không phải là sự ngẫu nhiên, bởi vì giáo đoàn truyền giáo Dòng Tên trước đó đã hoàn tất việc việc La tinh hóa chữ Nhật, để truyền giáo tại Nhật Bản. Nhật Bản cũng như Việt Nam ta, thuở đó mỗi nước đều có chữ Quốc ngữ biến chế từ chữ Hán, nước ta gọi là chữ NÔM, muốn biết chữ Nôm, đòi hỏi người ta phải am tường chữ Hán, chữ Hán vốn đã khó học rồi thì chữ Nôm lại càng khó hơn, chính vì thế mà các linh mục đã La tinh hóa chữ viết của Nhật cũng như Việt Nam, để cho công việc truyền giáo của họ được dễ dàng hơn.
II. Thời Kỳ Xây Dựng
Theo tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ, cho đến khi quyển Dictionarium Annamaticum Lusitinum et Latinum của Alexandre de Rhodes được in tại La Mã năm 1651, chữ Quốc ngữ đã bước sang giai đoạn mới. Giai đoạn nầy bắt đầu từ công trình của hai Linh mục Antonio Barbosa và Gasparo d'Amiral khi hai ông biên soạn Dictionarium Lusitanum - Annamaticum và Annamiticum - Lusitanum nhưng cả hai quyển nầy ngày nay chưa được khám phá.
Các nhà nghiên cứu cho rằng hai quyển tự điển vừa kể, có thể đã bị thất lạc do các cuộc di chuyển văn khố Dòng Tên từ Áo Môn qua Manila khoảng năm 1759-1760, và sau đó nhà cầm quyền Tây Ban Nha tịch thu các tài liệu ở văn khố Dòng Tên tại Manila vào khoảng năm 1770 đem về Madrid, nên ngày nay không tìm thấy vết tích 2 quyển tự điển nầy ở Áo Môn, Manila và ở Madrid cũng không tìm thấy chúng.
Linh mục Thanh Lãng có cho biết tại Tòa Thánh La Mã hiện có 2 cuốn tự điển do Linh mục Philipphé Bỉnh sao lục, không đề tên tác giả, đó là quyển : Dictionarium Annamiticum - Lusitanum ký hiệu Borg Touch 23 dầy 288 trang và Dictionarium Lusitanum - Annamiticum ký hiệu Touch 23 dầy 324 trang.
Philipphé Rosario Bỉnh sanh tại Hải Dương năm 1759, vào chủng viện năm 1775. Được phong Thầy Cả sau khi mãn khóa học.
Ngày 20-6-1796, ông đến Lisbonne thủ đô Bồ Đào Nha, tại đây ông theo dõi tình hình giáo hội và sáng tác gồm 23 tác phẩm gồm Bồ văn, La Tinh, Nôm và Quốc ngữ, trong số ấy có tác phẩm " Truyện An-nam Đàng ngoài chí Đàng trão ". Ông mất tại Lisbonne năm 1832.
Căn cứ vào công trình của Philipphé Bỉnh, vào những điều của Linh mục Thanh Lãng cho biết, chúng ta có thể đi đến kết luận là quyển Dictionarium Annamiticum - Lusitanum của Gasparo d'Amiral và Dictionarium Lusitanium - Annamiticum của Antonio Barbosa đều có ở tại Lisbonne nơi mà Philipphé Bỉnh đã ở và làm việc, nên ông đã sao chép lại quyển tự điển, nó cũng chứng tỏ rằng Linh mục Đắc Lộ đã mang 2 quyển sách trên từ Áo Môn về Âu châu, có lẽ trước tiên ông định in 2 quyển tự điển nầy, về sau ông đã dựa vào đó soạn và in ra quyển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, nên 2 quyển tự điển kia không cần thiết phải in nữa.
Chọn năm 1651 là năm đánh dấu sự hoàn tất công trình điển chế chữ Quốc ngữ, nhằm mục đích làm phương tiện truyền giáo của các giáo sĩ Tây Phương, bởi vì chẳng những quyển tự điển Dictionarium Annamiticum Lusitinum et Latinum được in mà còn có quyển " Cathéchismus " (Phép giảng tám ngày), cũng được in trong năm nầy.
2. Thời kỳ soạn thảo quyển tự điển An Nam - Bồ Đào Nha - LaTinh
Cho đến nay, chưa có tài liệu nào công bố thời gian và địa điểm Đắc Lộ đã soạn quyển Dictionarium Annamiticum Lusitinum et Latinum. Theo đoạn văn trích dịch ở trên, chúng ta biết rằng Đắc Lộ soạn quyển tự điển nầy dựa vào công trình hai quyển tự điển của Gasparo d'Amiral và Antonio Barbosa.
Nhưng công trình của 2 linh mục nầy không được in ra, chưa tìm thấy bản gốc, cũng chưa tìm thấy tài liệu nào cho biết thời gian biên soạn hay hoàn tất của chúng, để từ đó có thể giúp chúng ta xác định thời gian Linh mục Đắc Lộ soạn quyển tự điển của ông. Đặt ra vấn đề nầy để xác nhận thời điểm, trong những giai đoạn của tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ.
Theo vết chân của Đắc Lộ, chúng ta biết ông có thể soạn quyển tự điển, trong khoảng năm 1630-1640 là thời gian ông dạy thần học ở Học viện thần học tại Áo Môn. Nhưng mà thời gian nầy không chắc Linh mục Antonio Barbosa đã soạn xong quyển Tự điển Bồ Đào Nha - An Nam, vì thời gian 1620-1642 ông đang truyền giáo Đàng Trong rồi Đàng Ngoài, thời gian nầy Linh mục Antonio học hỏi tiếng Việt, và từ năm 1642 đến năm 1647 ông có ở Áo Môn để dưỡng bệnh, có lẽ thời gian nầy Linh mục Antonio đã biên soạn và hoàn tất quyển tự điển của mình trước tháng 12 năm 1645.
Còn Linh mục Gasparo d'Amiral sau thời gian ở Đàng Ngoài 7 năm, từ năm 1638-1645 ông ở tại Áo Môn giữ chức Viện trưởng Viện thần học kiêm Phó Giám Tỉnh Nhật và Trung Hoa, chắc chắn thời gian nầy ông đã phối hợp với Linh mục Antonio Barbosa để biên soạn và hoàn tất quyển tự điển An Nam - Bồ Đào Nha.
Tóm lại các quyển tự điển An Nam Bồ Đào Nha và Bồ Đào Nha An Nam được soạn trong khoảng 1638-1645. Vì năm 1645, Linh mục Gasparo bị đắm tàu chết đuối và trước đó ít hôm, Linh mục Đắc Lộ đã rời Áo Môn trở về Âu Châu, chúng ta lại biết thêm rằng, thời gian từ 3-7-1645 đến 20-12-1645 là thời gian cả 3 linh mục Đắc Lộ, Gasparo d'Amiral và Antonio Barbosa đều có mặt tại Thần Học Viện ở Áo Môn, chắc chắn họ đã có quyết định giao cho Đắc Lộ mang 2 quyển tự điển của họ về nhà in của Bộ Truyền giáo ở La Mã để in, cho nên ngày nay bản gốc 2 quyển tự điển trên không tìm thấy ở Áo Môn, Manilia hay Tây Ban Nha.
Linh mục Đắc Lộ rời Áo Môn ngày 20-12-1645, và đến La Mã ngày 27-6-1649, có lẽ thời gian nầy ông bắt đầu soạn quyển Tự điển An Nam - Bồ Đào Nha - La Tinh, nhằm mục đích để cho các Linh mục truyền giáo ở Việt Nam được dễ dàng hơn. Ý ấy đã được các Hồng y chấp thuận như ông đã ghi ở bài tựa quyển Tự điển.
Vậy thời điểm Đắc Lộ soạn quyển Dictionarium Annamaticum Lusitinum et Latinum là khoảng năm 1645- 1649, và ngày 5-2-1651 quyển nầy được Linh mục F. Piccolomineus Bề Trên Cả Dòng Tên cho phép xuất bản. Và sau đó quyển Cathéchismus được soạn trong khoảng năm 1649 - 1651, cuốn nầy được Linh mục L. M. Gosswinus Nickel quyền Bề Trên Cả cho phép xuất bản ngày 8-7-1651, nó đóng vai trò quan trọng trong công cuộc truyền giáo, nên trong phiên họp các Hồng Y và giáo chủ ngày 2-10-1651 đã quyết định ra lệnh cho nhà in của Bộ Truyền giáo ngưng in các ấn phẩm khác, để nhanh chóng in cho xong quyển Cathéchismus.
3. Nội Dung Quyển Dictionarium Annamaticum et Latinum
Quyển sách nầy trừ lời tựa, nó được chia thành ba phần chính:
a. Phần I. Linguae Annamaticae seu Tunchinensis brevis declaratio ( tức là phần Ngữ Pháp Việt Nam được soạn bằng La văn gồm 31 trang, chia thành 8 chương:
Chương I .- De literis et syllabis quibus hase lingue constat (chữ và vần trong tiếng Việt)
Chương II.- De Accentibus et aliis signis in vocalibus dấu nhấn và các dấu)
Chương III.- De Nominibus (Danh từ)
Chương IV.- De Pronominibus (Đại danh từ)
Chương V.- De Aliis Pronominibus (các Đại danh từ khác)
Chương VI.- De Verbis (Dộng từ)
Chương VII.- De Reliquis oratiomis indeclinabilibus (những phần bất biến)
Chương Chót.- Pracepta quacdam ad syntaxim pertinentia (cú pháp)
b. Phần II. Dictionarium Annamiticum seu Tunchinense cum lusiatna, et latina declaratione.
Phần nầy không đánh số trang, chỉ đánh số cột, mỗi trang chia làm 2 cột, có tất cả 900 cột, nhưng từ mẫu tự nọ sang mẫu tự kia thường để một vài trang giấy trắng. Chúng ta cũng nên chú ý, mẫu tự b (phụ âm v ngày nay, vì có tự dạng gần giống như mẫu tự b, nên được xếp tiếp sau mẫu tự b)
Mỗi chữ Việt được giải nghĩa theo thứ tự chữ Bồ rồi mới đến chữ La tinh.
c. Phần III. Index Latini sermonis.
Phần nầy mỗi trang chia làm 2 cột, không có ghi số trang và số cột, nhưng có tất cả 350 cột, tức là 175 trang. Trong mỗi cột, tác giả liệt kê các chữ La tinh, bên cạnh mỗi chữ có ghi số cột của chữ La tinh ấy ở Phần II. Như vậy người biết chữ La tinh sẽ tra cứu được chữ Việt tương ứng.
Sau khi biết khái quát về quyển tự điển nầy, chúng ta có những nhận định sau đây :
* Công trình điển chế Việt ngữ của Đắc Lộ chẳng những đã hệ thống hóa phương pháp ghi âm ngôn ngữ Việt Nam mà còn là một tác phẩm căn bản, để từ đó Việt ngữ được hợp lý hóa các âm thể như ngày nay.
* Dù sao thì công trình của Đắc Lộ cũng chỉ nhằm giúp những người biết chữ La tinh hay Bồ Đào Nha học Việt ngữ, Đắc Lộ không có công trình nào nhằm vào sự phổ biến chữ Quốc ngữ nầy cho người Việt, cũng vì thế mà từ 1651 đến 1866, hơn 2 thế kỷ chữ Quốc ngữ chỉ được phổ biến giữa các giáo sĩ và một ít giáo dân mà thôi.
* Cho đến khi quyển " Chuyện Đời Xưa " của Trương Vĩnh Ký ra đời năm 1866, vẫn còn ghi ở lời Tựa "... cùng là có ý cho người ngoại quốc muốn học tiếng An Nam, coi mà tập hiểu cho quen. " Điều nầy đủ chứng tỏ chữ Quốc ngữ trước đó, có mục đích giúp cho người ngoại quốc học tiếng Việt.
* Ngày nay một số tự điển nhằm mục đích giảng giải, phần đầu của tự điển có phần tóm lược ngữ pháp, chẳng hạn như quyển Anh Việt, Việt Anh Tiêu Chuẩn Tự Điển của Lê Bá Kông, sự trình bày cũng giống như hình thức trình bày ở phần đầu quyển Tự điển Việt - Bồ - La của Đắc Lộ.
4. Các Tác Phẩm Tiêu Biểu Khác.
a. Quyển Cathéchismus
Ngay trong năm 1651, Quyển Cathéchismus ( Phép Giảng Tám Ngày) là một bản văn chữ Quốc ngữ xưa nhất còn lại ngày nay, nó cũng là bản văn được nhiều người biết đến, đấy là công trình của Đắc Lộ, tuy chỉ nhằm mục đích truyền giáo, nhưng ngày nay nó đã trở thành một chứng liệu quý giá để xác định một bản văn hoàn toàn dùng Quốc ngữ.
Cathéchismus là một quyển sách giáo lý, viết cho người giảng dạy giáo lý dùng để truyền giáo. Mỗi trang sách chia làm 2 cột, cột bên trái là chữ la tinh và cột bên phải là chữ Quốc ngữ. Sách có 319 trang, không có lời tựa.
Sách không chia từng chương, mà chia thành ngày học, gồm có 8 ngày, cho nên còn được gọi tên là " Phép giảng tám ngày " , phân chia như sau :
- Ngày thứ nhất : Đạo thánh đức Chúa Trời.
- Ngày thứ hai : Đức Chúa Trời.
- Ngày thứ ba : Đức thợ cả
- Ngày thứ tư : Những đạo vạy
- Ngày thứ năm : Một đức chúa Trời ba ngôi - Đức chúa Trời ra đời cứu thế.
- Ngày thứ sáu : Thầy thuốc cả.
- Ngày thứ bảy : Con chiên lành.
- Ngày thứ tám : Một bậc thang lên Thiên đàng.
Sách không chia ra các tiểu mục, trong khi sao lục để tái bản, André Marillier dựa vào nguyên tắc để chia ra các tiểu mục. Chẳng hạn như Ngày thứ tư : Những đạo vạy :
* Con cháu ông Adam.
* Ông Noe và lụt cả
* Tháp Babel
* Nước đại minh phân ra nhiều đạo vạy
* Đạo bụt : giáo ngoài và giáo trong
* Đạo lão
* Đạo Nho : Việc thờ ông Khổng.
* Những sự dối trá của Thích Ca về linh hồn ta
* Những điều lầm lỗi trong việc thờ cúng cha mẹ
* Linh hồn ta chẳng hay chết.
Quyển Cathéchismus là một quyển sách Quốc ngữ được in đầu tiên vào năm 1651, nó mở đầu cho công cuộc truyền bá giáo lý Thiên chúa giáo bằng sách Quốc ngữ tại Việt Nam.
b. Các Tài Liệu Viết Tay
Ngày nay tại văn khố Dòng Tên ở La Mã còn có 2 tài liệu viết tay của 2 người Việt, đó là Igesico Văn Tín và Bento Thiện.
Tài liệu của Igesico Văn Tín là một lá thư viết ngày 12-9-1659, không đề nơi chốn gửi, mà cũng không ghi tên người nhận, nhưng do những chi tiết trong thư, người ta hiểu được là Văn Tín viết tại kẻ Vó, gửi cho Linh mục Marini lúc đó dang ở La mã. Nội dung thư, đại ý nói về các hoạt động truyền giáo tại kẻ Vó ( Đàng Ngoài), sau khi các giáo sĩ Tây phương bị chúa Trịnh trục xuất khỏi Đàng Ngoài, và bày tỏ lòng thành kính đối với Linh mục Marini ( 5 )
Còn tài liệu của Bento Thiện gồm có một bức thư viết tay, viết năm 1659 và một tập tài liệu. Cả hai đều lưu trử tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã. Về bức thư, tuy không có ghi ngày, nhưng mở đầu bức thư, ông có ghi ngày viết là ngày lễ Daria tức là 25 tháng 10.
Ở hàng trên cùng hay dòng thứ nhất của bức thư nầy, có ghi dòng chữ Bồ " Ao Pe Philipe Marino " ( Gửi cho cha Philipe Marino - Marini), dòng thứ hai ghi bằng chữ La Tinh " Pax Christi " ( Bằng an chúa Ky-tô), từ dòng thứ ba trở đi là chữ Quốc ngữ.( 6)
Nội dung bức thư nầy, ông nói về tình hình truyền giáo tại Đàng Ngoài, cùng những lời ca ngợi của chính Bento Thiện cũng như của những giáo dân đã nhờ ông chuyển lời thăm hỏi đến Linh mục Marini.
Ngoài ra Bento Thiện cũng có đề cập tới việc Marini nhờ ông viết một số tài liệu về Việt Nam, ông cho biết đã làm xong " hai vở " ( 7 ), và gửi nơi Linh mục Onofre để nhờ chuyển tới cho Marini.
Còn về tập tài liệu (hai vở) ( 8 ), nó gồm có 2 phần, phần trước gồm có : Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy cho đến Trịnh Nguyễn phân tranh, tuy tóm lược nhưng cũng khá đầy đủ, phần nầy gồm có 6 trang khổ 20 x 29 cm. Phần sau cũng gồm có 6 trang cùng khổ giấy, nội dung gồm có : Ghi chép phong tục, tổ chức quan lại, thi cử, tổ chức hành chánh, kể ra các xứ, phủ, huyện, châu, động, xã, thôn ở Đàng Ngoài và phần cuối cùng là tín ngưỡng.
Những tài liệu nầy có chụp hình và in lại trong quyển Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659 của Linh mục Đỗ Quang Chính, nói chung thì chữ Quốc ngữ viết vào thời kỳ nầy rất khó đọc, chỉ có chừng 50% là có tự dạng giống như ngày nay.
Qua những lời lẽ viết trong thư của Văn Tín và Bento Thiện cho chúng ta thấy rằng, sự diễn đạt bằng Quốc ngữ thời ấy không được suông sẻ, dữ kiện nầy không thể kết luận rằng trình độ văn hóa của người viết kém, vì Bento Thiện đã viết được lịch sử Việt Nam ... chẳng qua chữ Quốc ngữ chưa được phổ biến, chưa có quy củ để có thể diễn đạt tư tưởng dễ dàng, trong sáng, cho nên câu văn kém văn hoa.
5. Thời kỳ của Pièrre Joseph Georges Pigneau de Béhaine và J. L. Tabert.
a. Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine (1741-1799)
Ông là Giám mục d'Adran, người Pháp thuộc dòng Thừa sai, trong thời gian ở chủng viện Virampatman gần Pondichéry (Ấn Độ), ông có nghiên cứu về Khổng Mạnh và có soạn bộ tự vị Việt - La tinh (Dictionarium Annamatica - Latinum). Bản sao ghi năm 1772, còn lưu trử tại văn khố của hội Thừa sai Paris. Sách chưa kịp in ra thì ông mất.
b. J. L. Tabert (1794-1840).
Giám mục Tabert cũng thuộc dòng Thừa sai, ông có ở Sàigòn và soạn hai quyển tự vị : Dictionarium Annamatico - Latinum và Dictionarium Latino - Annamaticum, theo các nhà nghiên cứu như Adrien Launay, Linh mục Lepold Cadière đều cho rằng Tabert đã dựa vào công trình của d'Adran để soạn thảo. Quyển Dictionarium Annamatico - Latinum (Nam Việt Dương Hiệp Tự Vựng) được ấn hành do nhà Serampore, Extypis J. C. Marshman năm 1838.
Đến thời kỳ nầy các phụ âm đầu bl (blõ : trở), ml (mlòy: lời), tl (tlẽi : trẩy) vận cản /~/ (oũ : ông) đều được cải tiến như tự dạng ngày nay.
Nói chung đến thời kỳ nầy, chữ Quốc ngữ đã hoàn bị, hay nói khác hơn là chữ Quốc ngữ trong quyển Nam Việt Dương Hiệp Tự Vựng của Linh mục Tabert và chữ Quốc ngữ ngày nay không mấy khác biệt, và chữ Quốc ngữ cũng chỉ là phương tiện truyền giáo, cũng giống như tình trạng trước kia, nó chỉ được phổ biến giữa các giáo sĩ truyền giáo ở Việt Nam và một số rất ít giáo dân người Việt.
Phải đợi đến năm 1866, năm quyển " Chuyện Đời Xưa " của Trương Vĩnh Ký ra đời, chữ Quốc ngữ mới được phổ biến với mục đích truyền bá cho người Việt, và phải đợi đến năm 1882, nhà cầm quyền Pháp ban hành Nghị định, bó buộc các viên chức hành chánh xã thôn trong khắp cõi Nam Kỳ, phải thông hiểu chữ Quốc ngữ, nó đánh dấu thời điểm chữ Quốc ngữ được sử dụng chính thức tại miền Nam. Như vậy, từ khi manh nha cho đến khi được dùng làm văn tự chính thức trên vùng đất thuộc địa của Pháp, chữ Quốc Ngữ phải trải qua một thời gian trên hai thế kỷ rưỡi để hoàn thiện cấu trúc tự dạng.
Khuyên anh về học lấy chữ Nhu, ( 9 )
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ.
Biết được tiến trình hình thành của chữ Quốc ngữ, chúng ta mới hiểu rằng không phải chỉ có Linh mục Đắc Lộ, là người có công sáng chế ra chữ Quốc ngữ, mà trước đó còn có nhiều người khác, gồm các giáo sĩ Tây phương vàngười Việt Nam.
Phải đợi đến những nhà văn tiền phong như Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, sáng tác văn chương, đẩy mạnh việc truyền bá chữ Quốc ngữ, trong đó Huình Tịnh Của soạn quyển Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, in năm 1896. Họ đã là những nhà văn lớn, gây thành những phong trào tiên phong sau nầy về các địa hạt: báo chí, dịch truyện tàu, viết tiểu thuyết và ngay cả phong trào thơ mới cũng bắt đầu từ miền đất Nam Kỳ nầy.
Huỳnh
Ái Tông
Memoiry Day 2000
Memoiry Day 2000
Source : Hậu Giang
(2). Christofora Borri đến Đàng Trong năm 1618, ông theo Linh mục Buzomi và Pina đến lập cơ sở ở Nước Mặn, ông rời Đàng Trong năm 1621 về Áo Môn, rồi sau đó về Âu Châu.
(3). Borri, Relation della nuova missione delli PP. della Compania di Giesu, al regno della Cocincina, scritta dal Padre Christoforo Borri, Milanese della medesima Compania, Roma, 1631 ( Sự liên hệ về giáo đoàn mới của các linh mục Dòng Tên, ghi bởi linh mục Christoforo Borri người Milan thuộc giáo đoàn nầy).
(4). Võ Long Tê, Lịch sử Văn học công giáo Việt Nam, Tư Duy, Sàigòn 1965 trang 192-193.
(5). Đỗ Quang Chính Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659, Ra Khơi, Sàigòn 1972, trang 92-98.
(6). Sách Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659 đã dẫn trên, trang 100-107
(7). Bento Thiện gọi là 2 vở, đó là 2 tập vở. Xưa kia chuyển vận Âu- Á bằng đường thủy, có lẻ sợ bị nạn đắm tàu, nên sao thêm 1 tập, để gửi 2 chuyến tàu khác nhau, cho nên tuy 2 nhưng chúng chỉ là một, ngày nay cả 2 tập vở ấy, tồn trử tại Văn Khố Dòng Tên ở La Mã.
(8). Sách Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659 đã dẫn trên, trang 108-109 và phụ lục.
(9). Chữ Nhu là âm Hán Việt, âm Nôm đọc là Nho, chỉ cho chữ Hán
3 thg 12, 2010
Như mọi miền đất khác trên thế giới, dân tộc nào cũng có loại hình văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại: huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện tiếu lâm, tuồng, hài, ca dao, hò, vè... mà trong đó hát, hay còn gọi là hò ru con (ru em) là hình thức diễn xướng mà bất cứ ở làng quê nào trên dải đất Việt Nam cũng có.
Hò ru con có nét giống nhau là thường dùng thể thơ lục bát, lục bát biến thể với làn điệu nhẹ nhàng, lời ca thường đệm thêm nhiều tiếng không có nghĩa xác định. Chỗ khác nhau là về trường độ, cao độ, về sắc thái âm điệu, tiếng đệm... Hò ru con có một giá trị nhất định trong kho tàng văn chương bình dân của đất nước Việt Nam mà lực lượng thể hiện là phụ nữ Việt Nam qua nhiều năm tháng.
Hò ru con là hình thức diễn xướng quen thuộc của quê hương, được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ mà tuổi thơ là đối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm, chan chứa niềm yêu.
Hồn đất nước đượm màu trong lời ru, mẹ nuôi dưỡng tình yêu quê hương, ý thức chống ngoại xâm trong mỗi lời ca, dạy cho ta bài học về Tổ quốc:
Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng
Tình mẫu tử thiêng liêng, niềm khát vọng về một ngày mai con trưởng thành luôn đầy ắp trong lời mẹ ru thiết tha:
Ai trồng cây cũng muốn cây xanh
Ai sinh con cũng muốn lúc trưởng thành con nên
Hò ru con là giai điệu đẹp bền cùng thời gian, cuộc sống. Nội dung câu hò ru con hàm súc, phong phú, đề cập nhiều điều của quá khứ, hiện tại, tương lai... Là tình tự quê nhà giúp ta có niềm kiêu hãnh về dân tộc, tự hào về đất đai xứ sở:
Thương chi đồng nỗi thương con
Nhớ chi đồng nhớ nước non quê nhà
Từ đất đai, mẹ dạy con những điều nhân nghĩa, biết lao động, biết sản xuất nhằm xây dựng nước non nhà:
Ai ơi uống rượu thời say
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo?
Nội dung hò ru con tựu trung là một bản trường ca bất tận của kho tàng văn chương Việt. Có khi mẹ, chị hát về nhân nghĩa, về đạo lý làm người, về nghĩa vợ chồng, về thân phận người phụ nữ… Điệu hò thấm sâu vào tâm thức tuổi thơ, càng lớn, càng hiểu dần những điều mà mẹ, chị gửi gắm cho ta. Khôn ngoan theo thời gian, trưởng thành cùng câu hát. Biết ơn vô cùng điệu hò ru con cái thuở nằm nôi.
Nhìn từ một góc độ nào đó, điệu hò ru con là chất liệu ban đầu của tuổi thơ. Mẹ, chị đã gieo vào tâm hồn tuổi thơ những hạt giống lành về nhân ái, về đạo lý làm nguời, về tình yêu quê hương xứ sở.
Hình ảnh vầng trăng, ngọn cỏ, cánh diều... bóng dáng lũy tre làng, dòng sông thơ ấu... tất cả những sự vật cụ thể ấy đã trở thành ý niệm sống thiết thân từ tuổi thơ cho tới lúc trưởng thành. Trí tuệ, tâm hồn tuổi thơ cứ thấm nhuần những giá trị tình cảm đậm đà, những món ăn tinh thần thuần khiết, thiêng liêng, cao cả ấy.
Mong sao dù bất cứ không gian nào, thời gian, hoàn cảnh, địa hình nào, người phụ nữ Việt cũng khôn khéo dạy dỗ tuổi thơ bằng những điệu hò ru con của quê hương, xứ sở. Và những người mẹ Việt Nam, bằng vốn văn hóa truyền thống của mình, sẽ cho tuổi thơ được tắm mình trong ngọn nguồn ca dao đằm thắm; cho mai ngày con lớn khôn sẽ trở thành nguời công dân gương mẫu, đạo đức, đóng góp cho xã hội nhiều công ích thiết thực với nhân cách Việt Nam.
Hò ru con có nét giống nhau là thường dùng thể thơ lục bát, lục bát biến thể với làn điệu nhẹ nhàng, lời ca thường đệm thêm nhiều tiếng không có nghĩa xác định. Chỗ khác nhau là về trường độ, cao độ, về sắc thái âm điệu, tiếng đệm... Hò ru con có một giá trị nhất định trong kho tàng văn chương bình dân của đất nước Việt Nam mà lực lượng thể hiện là phụ nữ Việt Nam qua nhiều năm tháng.
Hò ru con là hình thức diễn xướng quen thuộc của quê hương, được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ mà tuổi thơ là đối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm, chan chứa niềm yêu.
Hồn đất nước đượm màu trong lời ru, mẹ nuôi dưỡng tình yêu quê hương, ý thức chống ngoại xâm trong mỗi lời ca, dạy cho ta bài học về Tổ quốc:
Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng
Tình mẫu tử thiêng liêng, niềm khát vọng về một ngày mai con trưởng thành luôn đầy ắp trong lời mẹ ru thiết tha:
Ai trồng cây cũng muốn cây xanh
Ai sinh con cũng muốn lúc trưởng thành con nên
Hò ru con là giai điệu đẹp bền cùng thời gian, cuộc sống. Nội dung câu hò ru con hàm súc, phong phú, đề cập nhiều điều của quá khứ, hiện tại, tương lai... Là tình tự quê nhà giúp ta có niềm kiêu hãnh về dân tộc, tự hào về đất đai xứ sở:
Thương chi đồng nỗi thương con
Nhớ chi đồng nhớ nước non quê nhà
Từ đất đai, mẹ dạy con những điều nhân nghĩa, biết lao động, biết sản xuất nhằm xây dựng nước non nhà:
Ai ơi uống rượu thời say
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo?
Nội dung hò ru con tựu trung là một bản trường ca bất tận của kho tàng văn chương Việt. Có khi mẹ, chị hát về nhân nghĩa, về đạo lý làm người, về nghĩa vợ chồng, về thân phận người phụ nữ… Điệu hò thấm sâu vào tâm thức tuổi thơ, càng lớn, càng hiểu dần những điều mà mẹ, chị gửi gắm cho ta. Khôn ngoan theo thời gian, trưởng thành cùng câu hát. Biết ơn vô cùng điệu hò ru con cái thuở nằm nôi.
Nhìn từ một góc độ nào đó, điệu hò ru con là chất liệu ban đầu của tuổi thơ. Mẹ, chị đã gieo vào tâm hồn tuổi thơ những hạt giống lành về nhân ái, về đạo lý làm nguời, về tình yêu quê hương xứ sở.
Hình ảnh vầng trăng, ngọn cỏ, cánh diều... bóng dáng lũy tre làng, dòng sông thơ ấu... tất cả những sự vật cụ thể ấy đã trở thành ý niệm sống thiết thân từ tuổi thơ cho tới lúc trưởng thành. Trí tuệ, tâm hồn tuổi thơ cứ thấm nhuần những giá trị tình cảm đậm đà, những món ăn tinh thần thuần khiết, thiêng liêng, cao cả ấy.
Mong sao dù bất cứ không gian nào, thời gian, hoàn cảnh, địa hình nào, người phụ nữ Việt cũng khôn khéo dạy dỗ tuổi thơ bằng những điệu hò ru con của quê hương, xứ sở. Và những người mẹ Việt Nam, bằng vốn văn hóa truyền thống của mình, sẽ cho tuổi thơ được tắm mình trong ngọn nguồn ca dao đằm thắm; cho mai ngày con lớn khôn sẽ trở thành nguời công dân gương mẫu, đạo đức, đóng góp cho xã hội nhiều công ích thiết thực với nhân cách Việt Nam.
24 thg 11, 2010
Nghệ An là một trong những cái nôi của văn nghệ dân gian, trong đó có ca trù.Trải qua nhiều thế kỷ, ca trù ở đây có lúc tưởng chừng như không tồn tại được nhưng cho đến nay nó đã thực sự được hồi sinh và trở thành “đặc sản” của người dân địa phương.
Tại đây, ca trù xuất hiện đầu tiên dưới dạng các phường hát và thủ phủ của nó là thành phố Vinh. Lúc hưng thịnh, có hẳn một tụ điểm chuyên nghiệp ở Cống Đệ Nhị, nhân dân quen gọi là phố cô đầu. Từ thành phố Vinh, ca trù đã lan rộng và phát triển ở một số địa phương như thị trấn Đô Lương, Thái Hoà (Nghĩa Đàn), Cầu Giát, Diễn Châu…Những người yêu thích nghệ thuật hát ca trù đã liên kết với nhau tổ chức thành các phường hội hát ca trù. Nhiều nơi nhân dân còn gọi là phường nhà trò hay phường nhà tơ…Tại các phường hội này, các thành viên say mê luyện tập không chỉ phục vụ các dịp lễ tết, đình đám mà còn đáp ứng yêu cầu giải trí, hát chơi, đối đáp giữa những nhà nho, các bậc sĩ tử uyên thâm. Khác với ở mọi nơi, ở Nghệ An các phường ca trù chia làm hai loại: tiểu hàng và đại hàng.
Tiểu hàng là phường ca trù hay còn gọi là gánh hát nhà trò, nhà tơ gồm ít thành viên thường chỉ có vài đào kép với vài ba đào nương nằm gọn trong một gia đình hay một gia tộc, chủ yếu phục vụ các đám đình nhỏ. Đại hàng là phường ca trù của một dòng họ nổi tiếng. Thành viên là những người trong họ nên gọi là “tộc giáo phường”. Tộc giáo phường chỉ truyền nghề cho những người trong dòng họ, chỉ khi nào thật cần thiết thì mới mở rộng ra truyền nghề cho những người thuộc dòng họ khác. Tiền thân của tộc giáo phường là những quản giáp, đào nương lừng danh đã từng chầu hát ở cung vua, phủ chúa…vì vậy thường rất được tôn sùng, được mời hát ở mọi nơi hội hè đình đám, tư gia, khao lão, vọng sắc… quan trọng.
Tuy nhiên, dù là đại hàng hay tiểu hàng thì những thành viên ở các phường này cũng không lấy cầm ca là nghề chính mà chỉ coi đó như một cái thú…chủ yếu họ vẫn sống bằng nghề nông hoặc thủ công. Ban ngày đi làm, tối về họ vẫn luyện tập ca hát để giữ gìn và phát huy tiếng hát của mình. Để trở thành đào nương giỏi cần phải luyện tập rất công phu, kỹ thuật tỉ mỉ đặc biệt là luyện thanh giọng sao cho phù hợp với từng bài, từng thể loại….Thời gian này, ở Nghệ An ca trù đã trở thành môn nghệ thuật chính phục vụ mọi sinh hoạt cộng đồng quan trọng của địa phương. Đặc biệt là trong nghi thức tế thần để chúc tụng thần, mua vui cho thần cầu mong cho dân làng được thái bình, yên ổn làm ăn phát đạt, người người được khoẻ mạnh…Những đào nương hát trong nghi lễ này phải là những người có đạo đức, sống trong sạch, có học hành chữ nghĩa thì mới hiểu được nội dung các bài hát ca trù mang tính bác học, nhiều điển tích, âm luật…
Được người dân ưa chuộng, ca trù có điều kiện để phát triển mạnh mẽ, thực sự trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với nhiều người dân. Ca trù cũng trở thành một hoạt động quan trọng của dân làng trong các dịp lễ tế nguyên đán, khai hạ, thượng nguyên, kỳ phúc…đặc biệt ca trù còn được đưa vào lệ làng trong các hương ước địa phương có ca trù ảnh hưởng sâu rộng nhất và ghi nhiều nhất trong hương ước của địa phương đó là xã Đào Viên và xã Hạnh Lâm (Diễn Châu- Nghệ An).
Dưới triều đại phong kiến đặc biệt triều Lê trung hưng và đầu đời Nguyễn ca trù được tôn sùng vì vậy có lẽ đây cũng là giai đoạn hưng thịnh nhất của ca trù Nghệ An nói riêng và ca trù người Việt nói chung. Thời thực dân Pháp đô hộ, xã hội bắt đầu bị Âu hoá, để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của một lớp người, các ca giám ở đây đều chuyển thành các phố cô đầu. Các đào nương đã bị tha hoá bởi đồng tiền, dùng tiếng hát để mua vui cho khách, phục vụ những nhu cầu thấp hèn của khách vì vậy mà lúc này người dân đã có cái nhìn coi thường, miệt thị các đào nương và cũng vì thế mà họ cũng bớt tôn sùng môn nghệ thuật vốn rất thiêng liêng này.
Ngày nay chân giá trị của những nghệ thuật dân tộc đặc sắc đã đang được phục hồi bởi những người yêu tha thiết ca trù, tâm huyết, muốn phục hồi lại vốn cổ của dân tộc. Những đào nương còn lại mặc dù đã 80- 90 tuổi nhưng họ vẫn sẵn sàng tham gia vào các câu lạc bộ ca trù ở địa phương, truyền dạy cho các con cháu. Từ đội ca trù Diễn Liên đã phát triển thành CLB ca trù Diễn Liên rồi CLB ca trù Diễn Yên, Diễn Hoa, Diễn An, Diễn Mỹ…cũng ra đời. Từ 2 thành viên ban đầu đến nay các CLB cũng có tới hàng chục thành viên hàng ngày vẫn say sưa tập luyện để phục vụ nhân dân và giao lưu với bạn bè các tỉnh lân cận.
Huy vọng rằng với loại hình nghệ thuật dân tộc độc đáo, cùng lòng say mê tận tuỵ của những thành viên CLB ca trù Nghệ An sẽ phục dựng lại được những thế loại ca trù đặc sắc của địa phương mình, để từng bước đưa ca trù phát triển và ăn sâu vào đời sống của người dân, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi người, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc.
K.T-Theo cpv.org.vn
Tại đây, ca trù xuất hiện đầu tiên dưới dạng các phường hát và thủ phủ của nó là thành phố Vinh. Lúc hưng thịnh, có hẳn một tụ điểm chuyên nghiệp ở Cống Đệ Nhị, nhân dân quen gọi là phố cô đầu. Từ thành phố Vinh, ca trù đã lan rộng và phát triển ở một số địa phương như thị trấn Đô Lương, Thái Hoà (Nghĩa Đàn), Cầu Giát, Diễn Châu…Những người yêu thích nghệ thuật hát ca trù đã liên kết với nhau tổ chức thành các phường hội hát ca trù. Nhiều nơi nhân dân còn gọi là phường nhà trò hay phường nhà tơ…Tại các phường hội này, các thành viên say mê luyện tập không chỉ phục vụ các dịp lễ tết, đình đám mà còn đáp ứng yêu cầu giải trí, hát chơi, đối đáp giữa những nhà nho, các bậc sĩ tử uyên thâm. Khác với ở mọi nơi, ở Nghệ An các phường ca trù chia làm hai loại: tiểu hàng và đại hàng.
Tiểu hàng là phường ca trù hay còn gọi là gánh hát nhà trò, nhà tơ gồm ít thành viên thường chỉ có vài đào kép với vài ba đào nương nằm gọn trong một gia đình hay một gia tộc, chủ yếu phục vụ các đám đình nhỏ. Đại hàng là phường ca trù của một dòng họ nổi tiếng. Thành viên là những người trong họ nên gọi là “tộc giáo phường”. Tộc giáo phường chỉ truyền nghề cho những người trong dòng họ, chỉ khi nào thật cần thiết thì mới mở rộng ra truyền nghề cho những người thuộc dòng họ khác. Tiền thân của tộc giáo phường là những quản giáp, đào nương lừng danh đã từng chầu hát ở cung vua, phủ chúa…vì vậy thường rất được tôn sùng, được mời hát ở mọi nơi hội hè đình đám, tư gia, khao lão, vọng sắc… quan trọng.
Tuy nhiên, dù là đại hàng hay tiểu hàng thì những thành viên ở các phường này cũng không lấy cầm ca là nghề chính mà chỉ coi đó như một cái thú…chủ yếu họ vẫn sống bằng nghề nông hoặc thủ công. Ban ngày đi làm, tối về họ vẫn luyện tập ca hát để giữ gìn và phát huy tiếng hát của mình. Để trở thành đào nương giỏi cần phải luyện tập rất công phu, kỹ thuật tỉ mỉ đặc biệt là luyện thanh giọng sao cho phù hợp với từng bài, từng thể loại….Thời gian này, ở Nghệ An ca trù đã trở thành môn nghệ thuật chính phục vụ mọi sinh hoạt cộng đồng quan trọng của địa phương. Đặc biệt là trong nghi thức tế thần để chúc tụng thần, mua vui cho thần cầu mong cho dân làng được thái bình, yên ổn làm ăn phát đạt, người người được khoẻ mạnh…Những đào nương hát trong nghi lễ này phải là những người có đạo đức, sống trong sạch, có học hành chữ nghĩa thì mới hiểu được nội dung các bài hát ca trù mang tính bác học, nhiều điển tích, âm luật…
Được người dân ưa chuộng, ca trù có điều kiện để phát triển mạnh mẽ, thực sự trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với nhiều người dân. Ca trù cũng trở thành một hoạt động quan trọng của dân làng trong các dịp lễ tế nguyên đán, khai hạ, thượng nguyên, kỳ phúc…đặc biệt ca trù còn được đưa vào lệ làng trong các hương ước địa phương có ca trù ảnh hưởng sâu rộng nhất và ghi nhiều nhất trong hương ước của địa phương đó là xã Đào Viên và xã Hạnh Lâm (Diễn Châu- Nghệ An).
Dưới triều đại phong kiến đặc biệt triều Lê trung hưng và đầu đời Nguyễn ca trù được tôn sùng vì vậy có lẽ đây cũng là giai đoạn hưng thịnh nhất của ca trù Nghệ An nói riêng và ca trù người Việt nói chung. Thời thực dân Pháp đô hộ, xã hội bắt đầu bị Âu hoá, để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của một lớp người, các ca giám ở đây đều chuyển thành các phố cô đầu. Các đào nương đã bị tha hoá bởi đồng tiền, dùng tiếng hát để mua vui cho khách, phục vụ những nhu cầu thấp hèn của khách vì vậy mà lúc này người dân đã có cái nhìn coi thường, miệt thị các đào nương và cũng vì thế mà họ cũng bớt tôn sùng môn nghệ thuật vốn rất thiêng liêng này.
Ngày nay chân giá trị của những nghệ thuật dân tộc đặc sắc đã đang được phục hồi bởi những người yêu tha thiết ca trù, tâm huyết, muốn phục hồi lại vốn cổ của dân tộc. Những đào nương còn lại mặc dù đã 80- 90 tuổi nhưng họ vẫn sẵn sàng tham gia vào các câu lạc bộ ca trù ở địa phương, truyền dạy cho các con cháu. Từ đội ca trù Diễn Liên đã phát triển thành CLB ca trù Diễn Liên rồi CLB ca trù Diễn Yên, Diễn Hoa, Diễn An, Diễn Mỹ…cũng ra đời. Từ 2 thành viên ban đầu đến nay các CLB cũng có tới hàng chục thành viên hàng ngày vẫn say sưa tập luyện để phục vụ nhân dân và giao lưu với bạn bè các tỉnh lân cận.
Huy vọng rằng với loại hình nghệ thuật dân tộc độc đáo, cùng lòng say mê tận tuỵ của những thành viên CLB ca trù Nghệ An sẽ phục dựng lại được những thế loại ca trù đặc sắc của địa phương mình, để từng bước đưa ca trù phát triển và ăn sâu vào đời sống của người dân, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi người, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc.
K.T-Theo cpv.org.vn
23 thg 11, 2010
Kiến trúc Hà Nội qua từng thời kỳ
1. Dấu tích những đổi thay của một Hà Nội giai đoạn giao thời cho đến nay vẫn còn lẩn quất đâu đó. Hình ảnh những công trình kiến trúc ở Hà Nội do người Pháp xây dựng được nhìn thấy ở nhà hát lớn thành phố, ở cây cầu Long Biên cổ tích, ở tuyến đường sắt kéo dài từ Bắc chí Nam, ở toà thị chính… Những hình ảnh ấy đến nay vẫn chưa hề xoá nhoà. Nó là chứng tích của một giai đoạn lịch sử mà người dân Việt Nam đã phải gánh chịu biết bao mất mát đau thương, là giai đoạn mà người Pháp là chủ nhân còn người dân An Nam chỉ là thân phận nô lệ.
Hà Nội trước khi người Pháp đến là một đô thị thuần phác với văn minh lúa nước là chủ yếu, công thương nghiệp phát triển chậm, mang tín chất nhỏ lẻ. Khi người Pháp xuất hiện và bắt tay vào công cuộc chỉnh trang đô thị, trước tiên để phục vụ cho nhu cầu của người Pháp sinh sống trên đất Hà Nội, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa tiến triển nhanh chóng, thì bộ mặt đô thị Hà Nội dần đổi khác. Có lẽ không nơi đâu ghi lại một cách sinh động những thay đổi ấy của Hà Nội bằng những trang du ký của người Việt và của người Pháp viết về Hà Nội giai đoạn giao thời.
2.1. Hà Nội vận động đổi thay từ một đô thị cũ sang đô thị kiểu mới
Người Pháp có mặt ở Hà Nội từ rất sớm. Những người đầu tiên có mặt ở xứ Bắc kỳ là những thương nhân, nhà truyền đạo sau đó là đội quân viễn chinh hùng hậu của thực dân Pháp. Tuy nhiên, sự có mặt của người Pháp để dẫn đến những đổi thay về nhiều mặt của Hà Nội phải đến giai đoạn giao thời. Sự đổi thay ấy đã được nhiều nhà nghiên cứu sử học tìm hiểu. Để có cái nhìn toàn diện hơn về Hà Nội giai đoạn này có lẽ ta nên tiếp cận những tài liệu du ký do người Pháp ghi chép lại. Những tác phẩm du ký của người Pháp viết về Hà Nội giai đoạn giao thời đã được xuất bản không phải nhiều nhưng đã cung cấp cho người đọc những cứ liệu quý giá về một Hà Nội dưới nhãn quan của những người đại diện cho đội quân xâm lược. Đó cũng là một góc nhìn đáng để chúng ta quan tâm tìm hiểu.
Trước khi người Pháp đến, Hà Nội chưa phải là một đô thị theo đúng định nghĩa của nó mà theo người Pháp: “Nói đúng ra, Hà Nội 1873 không phải là một thành phố mà là một điểm dân cư hỗn hợp, trong đó khu hành chính, khu buôn bán và nhiều làng được đặt bên cạnh nhau trong một khu vực kín” (1; 20). Hà Nội giai đoạn này chưa phải là một đô thị thuần nhất mà chẳng qua là nơi hội tụ buôn bán của các làng hay nói cách khác đó là một đô thị kiểu nông thôn.
Sự đổi thay của Hà Nội bắt đầu bằng việc người Pháp xâm lược, chiếm đóng Hà Nội. Họ tiến hành phá bỏ những kiến trúc cũ của đô thị Hà Nội để xây dựng kiến trúc mới. Bất kỳ một quốc gia đi xâm lược nào khi đặt nền thống trị của mình lên quốc gia khác cũng muốn biến quốc gia đó trở thành một đứa con do mình đẻ ra. Người Pháp cũng vậy, họ muốn biến Hà Nội thành một đứa con lai căng của nước Pháp (Pháp tự xưng mình là “mẫu quốc” còn An Nam là nước “bảo hộ”). Vì vậy, ngay khi bình định xong miền Bắc, thực dân Pháp tiến hành ngay công cuộc cải biến quốc gia An Nam nói chung, Hà Nội nói riêng thành “cái vú sữa” phục vụ cho chính người Pháp. Do đó, những thay đổi của đô thị Hà Nội trước tiên là do nhu cầu của chính quốc chứ không phải nhu cầu bức thiết của người dân An Nam trên đường phát triển của mình.
Vậy người Pháp đã làm thay đổi những gì ở Hà Nội?
Ngay từ khi bước chân người Pháp đặt lên đất Hà thành đã kéo theo những thay đổi lớn lao của đất kinh đô ngàn năm văn hiến. Người Pháp đánh chiếm Hà Nội hai lần, lần thứ nhất vào năm 1873, kéo dài thời kỳ lãnh sự, tức người Pháp chỉ đặt trú sứ ở đất kinh kỳ chứ chưa hề can thiệp vào công việc nội bộ của Bắc kỳ. Thời kỳ này kéo dài đến khoảng năm 1882. Sau đó, Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai và đặt nền bảo hộ của thực dân lên toàn bộ lãnh thổ Bắc kỳ.
Nơi người Pháp đặt chân đến đầu tiên đó là Trường Thi. Đây là địa điểm mà triều đình phong kiến tổ chức những kỳ thi quan trọng của quốc gia nhằm tuyển chọn nhân tài phục vụ cho đất nước. Khi xâm chiếm được Hà Nội lần thứ nhất, Francis Garnier đã ký cùng với triều đình nhà Nguyễn bản thoả thuận cho phép người Pháp tạm thời đóng quân ở Trường Thi cho đến năm 1876. Vì khi đó diễn ra kỳ thi hương, quy tụ hàng chục ngàn người ở khắp nơi đổ về. Sự có mặt của người Pháp ở nơi đây đã làm biến đổi nghiêm trọng bộ mặt cũng như ý nghĩa của Trường Thi. Đây là nơi diễn ra những kỳ thi long trọng bậc nhất của Bắc kỳ tức là một nơi tôn nghiêm, kính cẩn lại diễn ra những cảnh tượng trái tai gai mắt: “Những trận mưa như thác vào tháng chín biến Trường Thi thành một bãi lầy mênh mông. Nước trong nhà nhiều đến nỗi binh linh giặt quần áo ngay trước cửa”. (36, Massan). Như vậy, khi bắt đầu đặt bước chân đầu tiên vào thành Hà Nội, thực dân Pháp đã có mặt ở một nơi mà triều đình phong kiến hết sức coi trọng, biến nó thành một trại lính ô hợp. Tính chất nghiêm cẩn của Trường Thi đã giảm đi nhiều lần. Kéo theo đó, tất cả những kỳ thi diễn ra sau này với sự có mặt của người Pháp cũng mất đi rất nhiều giá trị và ý nghĩa.
Khi Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai, chúng đã tiến hành những thay đổi tiếp theo. Khác với lần chiếm Hà Nội trước, lần này người Pháp muốn thay đổi toàn diện bộ mặt Hà Nội theo kiểu Pháp, phục vụ cho người Pháp. Đối tượng nhắm đến lúc này là thành Hà Nội. Người Pháp cho phá thành Hà Nội với cái tên nhà thầu được Nguyễn Khuyến nhắc đến trong câu đối của mình đó là cô Tư Hồng, cô Tây thành tư bản: “Khoảng năm 1895 nó cho đấu thầu phá thành Hà Nội. Một nhà thầu là cô Tư Hồng, cô Tây thành tư bản. Chỉ để lại cửa Bắc với 2 vết đạn để khoe rằng pháo đại bác Pháp bắn tài” (3; 15). Thành Hà Nội được xây dựng từ năm 1805 dưới thời Gia Long để nhằm bảo vệ đô thành nơi: “… Ở trung tâm đất nước, cái thế rồng cuộn, hổ ngổi. Đất bằng phẳng, dân cư đông đúc, muôn vật phong phú, tốt tươi. Tật là một chỗ hội họp bốn phương, nơi đô thành bậc nhất của muôn thuở…” (3; 35). Thành Hà Nội là chứng tích cho sự hợp tác đầu tiên giữa Pháp-Nam những năm dầu thế kỷ XIX - do sĩ quan Pháp, bạn của Bá Đa Lộc thiết kế xây dựng theo kiểu pháp đài Vauban.
Sự thay đổi này của người Pháp mang tính chất tàn phá nhiều hơn là xây dựng. Bởi lẽ nếu thành Hà Nội vẫn còn thì chẳng khác nào triều đình phong kiến vẫn ở đấy. Chính vì thế, Henri Riviere đã cho phá thành mà chỉ chừa lại bức tường thành với dấu đại bác. Việc làm đó đã khiến cho Paul Doumer, quan toàn quyền Pháp ở Đông Dương, hết sức thất vọng nhưng không thể làm gì hơn vì sự việc đã rồi: “Tôi sang quá chậm để giữ lại những chỗ cần thiết. đặc biệt là các cửa thành đáng được giữ lại. Chúng có phong cách lớn quan hệ mật thiết với lịch sử đáng cho ta phải kính nể. Giống như khải hoàn môn Ngôi sao ở Paris. Các cửa đó sẽ làm đẹp cho các khu phố mà không cản trở giao thông và quy hoạch thành phố” (1; 79). Xét về ý nghĩa, thành Hà Nội là một nơi không kém phần quan trọng của triều đình phong kiến. Nói như Massan: “ … thành Hà Nội không chỉ là một pháo đài chính của Bắc Đông Dương mà còn là lỵ sở hành chính của một tỉnh lớn và thủ đô lịch sử Đàng Ngoài; nơi đóng đô của nhiều triều đại quốc gia trong nhiều thế kỷ” (2;59). Khi người Pháp đã trở thành chủ nhân của “ngôi nhà” Hà Nội thì việc làm của họ không nằm trong sự mong muốn của người dân An Nam. Nơi đế đô ngàn năm văn hiến của An Nam đã trở thành những gì mà người Pháp muốn. Đại uý Petrowey biến hoàng cung thành một pháo đài, “thay chiếc lan can chạm khắc bằng một bức tường trổ lỗ châu mai xấu kinh người” (1;75). Những việc người Pháp làm đối với thành Hà Nội chẳng qua là muốn khẳng định vị trí của người Pháp nơi đô thành An Nam, vị trí của người làm chủ.
Những thay đổi đáng kể nhất về mặt cảnh quan đô thị phải kể đến việc hình thành khu phố người Pháp phân biệt với khu phố An Nam nghèo nàn. Đó là việc làm mà người Pháp chỉ rõ vai trò người làm chủ nơi vùng đất đô hộ. Tuy nhiên, việc đó cũng đưa lại những điều lợi nhất định đối với người dân An Nam: lối sống tư bản phương Tây từng bước xâm nhập vào vùng đất nghèo nàn, lạc hậu An Nam, tạo ra một môi trường văn hoá mới lạ, văn minh hơn so với phố phường An Nam cũ kỹ, lạc hậu. Đó là luồng gió mát làm cho những người sống trên mảnh đất này cũng cảm nhận được sự đặc biệt của nó. Juless Boissiere có lẽ đã tự hào quá đáng khi viết về khu phố này nhưng cũng hàm chứa phần nào sự thật bên trong: “Giống như cô gái An Nam bỏ dần bộ quần áo xấu xí nhuộm cu nau (củ nâu) đẫm mồ hôi lao động, dân di thực chúng ta đã chứng kiến, năm này qua năm khác…” (1;157). Cũng cần nhìn nhận vấn đề một cách hai chiều, người Pháp xây dựng khu phố Pháp mục đích chính để phục vụ cho công dân Pháp, tách hẳn với khu phố của người An Nam mà cái gạch nối chính là Hồ Gươm. Sự đối nghịch về kiến trúc giữa hai bộ phận: người Việt và người Pháp trên cùng mảnh đất Hà Nội đã tạo ra sự khập khễnh trong kiến trúc đô thị Hà thành những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.
Điểm qua những đổi thay ở phố phường Hà Nội giai đoạn giao thời ta có thể thấy được bức tranh khái quát về đô thị này qua cái nhìn của người Pháp cũng như qua cái nhìn của một số người dân An Nam. Ở đó, có sự kết hợp nửa vời của hai người nghệ sĩ: hai phần là người nghệ sĩ An Nam với nét vẽ thô sơ, thuần phác của mình, một phần là nét vẽ nghệch ngoạc của người Pháp nhằm phục vụ cho cuộc sống riêng của kẻ cai trị, vô tình đã đi chệch với bố cục chung tổng thể. Tuy nhiên, cũng từ đó, đô thị Hà Nội dần dần biến chuyển và thay đổi theo lối kiến trúc hiện đại của người Pháp mà xoá dần những kiến trúc xưa đã hình thành bao đời. Đó cũng là tiến trình tất yếu của lịch sử phát triển xã hội.
2.2. Những biến chuyển trong lòng đô thị Hà Nội giai đoạn giao thời
Đó là những thay đổi ở bề mặt ngoài của đô thị còn những biến chuyển bên trong đời sống xã hội mới nhiều điều đáng nói. Quả thực bất kỳ sự chuyển mình thay đổi nào cũng đầy trăn trở, vật vã. Giữa cái cũ và cái mới phải đối chọi, phải đấu tranh với nhau, cái nào sẽ thống lĩnh xã hội, cái nào sẽ chấp nhận diệt vong? Những biến chuyển trong lòng xã hội mới tạo ra bao điều nhức nhối. Dường như lịch sử không còn con đường lựa chọn nào khác. Bánh xe vẫn lăn và con người phải nhoài người theo để tiếp cận với cái mới. Chưa biết cái cũ và cái mới cái nào tốt hơn nhưng trước mắt người dân nơi Hà thành phải lựa chọn một hướng đi.
Người Pháp vào Việt Nam, lối sống của người Châu Âu xâm nhập một cách từ từ vào tư duy, cách nghĩ, cách sống của người dân An Nam. Bắt đầu từ sự thay đổi trật tự các tầng lớp trong xã hôi. Nguyễn Công Trứ đã từng nêu rõ sự sắp xếp thứ bậc trong xã hội phong kiến:
Tước hữu ngũ sĩ vi kỳ liệt
Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên
Có giang san thì sĩ đã có tên
Từ Chu Hán vốn sĩ này là quý.
(Kẻ sĩ)
Nhưng từ khi người Pháp đặt bộ máy chính quyền cai trị lên đất nước An Nam thì tầng lớp kẻ sĩ đã không còn giá trị gì nữa. Đi cùng với bộ máy hành chính của người Pháp là sự ra đời của những giai cấp, tầng lớp mới. Những quan Tây, những người phục vụ cho chính quyền Tây: thầy thông ngôn, thầy ký, thầy phán… là những người được sống sung sướng, quyền cao chức trọng. Chính vì thế họ là nhữg người được bao nhiêu người khác phải mơ ước. Những cô gái mới lớn lên đều mơ ước được lấy những người này dù tiếng chê, tiếng cười để đời: “Về xã hội, cũng có những biến chuyển. Sính đi lấy ông huyện, bấy giờ mấy cô lấy “đốc tờ”, ít ra cũng làm bà tham; bà tham ăn lương tây “mới giá trị” (3;79). Tú Xương, thi hào dòng sông Vị đã từng khái quát hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ như sau:
Nào có ra gì cái chữ Nho,
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co.
Chi bằng đi học làm thầy phán,
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.
(Chữ Nho)
Trật tự đảo ngược như vậy đã gây nên bao thảm cảnh đối với người dân An Nam. Tất cả mọi miền đất nước đều diễn ra những cảnh tượng như vậy. Đặc biệt, với Hà Nội, một đô thành lâu đời của An Nam thì sự đổi thay thứ bậc trong xã hội còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng, thương tâm đến mức nào.
Đi cùng với sự thay đổi trật tự nấc thang trong xã hội là nạn phân biệt đối xử giữa người dân An Nam và người Pháp, giữa chính người An Nam với nhau. Claude Bourrin trong “Đông dương ngày ấy 1898-1908” đã thừa nhận: “Phải thừa nhận rằng 40 năm trước đây người Châu Âu sống mà không hề có chút quan tâm nào tới người bản xứ…” (2;53). “Tại các khu dân cư An Nam, chẳng có gì ngoài chấy rận và sự bẩn thỉu; sự cao nhã chỉ thấy trong rạp, nơi mấy người thông ngôn ngồi thư giãn giữa các loại xương vãi dưới đất” (2;54). Đi cùng với việc phân biệt nơi sinh sống giữa hai sắc tộc thì sự phân biệt đối xử cũng thể hiện vô cùng rõ ràng và cay nghiệt: “Để cụ thể hoá cái hố ngăn cách người Pháp với đám dân nghèo mạt, tôi nhớ rõ lúc đó cảnh sát bắt giữ bất cứ người An Nam nào tìm trong nhà có các đồ vật làm ở Châu Âu như thìa, dĩa, đèn, khăn ăn, đồng hồ quả lắc, quần áo… Nếu cho người bồi một cái đồng hồ để đi làm đúng giờ, người chủ phải cho anh ta một giấy chứng nhận. Thậm chí một đôi giầy kiểu Châu Âu cũng là một thứ xa xỉ người An Nam không thể nào có được” (2;55).
Thật không dễ dàng để chấp nhận những đổi thay quá nhanh chóng nơi đất Hà thành! Hoàng Đạo Thuý đã chấp bút kết luận một câu: “Cảnh tượng mới của phố, đến láo nháo” (3;79).
Sự “láo nháo” trong lòng đô thị Hà Nội không chỉ diễn ra ở những đổi thay về giai tầng trong xã hội mà ngay cả phố phường cũng nhuốm đầy hoen ố của những cặn bã văn minh. Cảnh tượng láo nháo của phố phường Hà Nội được làm rõ qua âm thanh đêm khuya thanh vắng. Bên cạnh những âm thanh của cảnh vật tự nhiên: “Thời tiếng giun tiếng dế trong bãi cỏ, tiếng sát sành nắc nẻ trong bụi cây, mà trên cành cao lại thánh thót tiếng con chim cú;…” (4;267), là âm thanh hoạt động huyên náo của con người: “lác đác tiếng xe tay trên đường đưa đến; lại tiếng chuông xe song mộ ai loong coong cùng tiếng chân ngựa lốp cốp, với tiếng ô tô ù ù kèn bóp te te; song chốc lát tại tĩnh, chỉ còn tiếng dế kêu, giun rúc, sát sành nắc nẻ vỗ cánh, đập chân, con cú nọ rên rỉ gớm ghiếc! Xa xa văng vẳng tiếng chó cắn bốn bề, tiếng gà gáy nửa đêm, thỉnh thoảng lại giật mình vì tiếng người kêu ông “cẩm”: cậu xe bị quỵt, cô đĩ mắc lừa, du côn say rượu, thầy quyền gió tẳng, đánh “oái” lên rồi lại thấy thoi ngay! Rồi tiếng đàn bầu, đàn nguyệt đằng sau lưng, tiếng reo hát cười cợt xen tiếng lóc nhóc chuyển động của những chiếc xe cao su, mà các ông lính tây ở các “ô-ten” đi về trong trại. Lời văng tục của những kẻ hạ đẳng đi khuya, tiếng chửi nhau của những phường kiếm ăn đêm tối, tiếng lũ phu thùng, tiếng xe chở uế!” (4;264). Ngay cả ban đêm cũng không thể tìm thấy phút giây yên tĩnh. Đêm khuya trở thành cái nền che chở cho những hành vi, sự việc không mấy tốt đẹp được diễn ra một cách trôi chảy. Vì vậy, không có một thói xấu xa, đồi truỵ nào không được phô bày ra trên đường phố vào lúc nửa đêm. Cả người An Nam lẫn người Tây đều đua nhau ăn chơi, hành lạc trong sự bát nháo của xã hội. Hà Nội lại là nơi tập trung, quy tụ tất cả những cái rác rưởi của một xã hội văn minh nửa vời, cả những thói rởm đời, ti tiện. Nếu công luận nghiêm thì những thói xấu không thể tồn tại lâu. Nhưng ở giai đoạn này, người ta cũng không thể xác định được đâu là cái chuẩn mực thì những cái xấu nghiễm nhiên song hành với cái tốt thậm chí cái tốt cũng chẳng còn đất sống.
Bên trong lòng xã hội như vậy, những cảnh tượng trái tai gai mắt diễn ra như thói thường: “Ôi! Đến chỗ kia là chỗ chi chi, mà trai đôi gái cặp cùng nhau trơ trẽn ra vào, cười tiền, hôn bạc, yêu dối, tình vờ; làm cho tinh thần trác táng, thân thể hao mòn, gây nên bệnh hoạn, gia đình bởi đó mà hỏng, phong hoá bởi đó mà suy, quốc gia bởi đó mà không còn nguyên khí! Thương thay! Cho cái lòng dục của con người ta vốn sẵn có từ trời cũng như con vật, thế mà không lấy cái đạo đức để hạn chếnó lại, thời người ta với thú có khác gì?” (4;266). Người ta không còn biết đến sự tốt xấu, khen chê của người đời nữa khiến Hội Nhân phải thốt lên lời than thống thiết cho sự đồi bại của xã hội đương thời: “Đau đớn thay! Cho cái thói Trịnh Vệ, nhục nhã thay! Cho kẻ lẫn ái tình. Nào cái tình nó có tội đâu, chẳng qua chỉ tội ở những đứa nó làm cho nhơ nhuốc bẩn thỉu cái tình mà thôi! Cái thói xấu ấy ở nước ta thật là mới có mấy năm nay vậy. Ai ơi! Xin nghĩ cách nào mà trừ bỏ nó đi kẻo bẩn mắt, dơ tuồng, hại cho phong hoá…” (4;267)
Trong du ký, qua cảnh vật người ta có thể hình dung ra sự thay đổi của bộ mặt xã hội cũng như những biến chuyển trong lòng xã hội. Chỉ một đoạn như thế này cũng đủ thấy Hà Nội giai đoạn giao thời đã dời ngôi đổi chủ như thế nào: “Để mắt về phía núi Bút Tháp, cửa Nghiên Đài thời chỉ thấy lù lù đen trông như cái đống, mà cầu Thê Húc cũng không tỏ chút nào; cố nhận ra mới biết chốn đền Ngọc Sơn thời mường tượng như một cái đình của dân nào ngày lụt ở ruộng đầu làng; mà cái tháp Báo Thiên ở giữa hồ thời chẳng khác cái miếu trên nấm đất cao giữa cánh đồng chime. Mặt nước thời long lanh song gợn coi như những cái vẩy con rồng ngày hội Chánh trung, thỉnh thoảng có con cá quẫy cùng lớp cồn to; sen thì ở bên kia, phía này không có, muốn ngửi hương mà chẳng được vừa lòng!” (265) Triều đại phong kiến đã mất đi giai đoạn huy hoàng, những chứng tích cũ ghi dấu lịch sử phong kiến ngàn năm dường như cũng lu mờ, ủ dột trong cái nhìn của người ngắm cảnh. Những nét đẹp của cảnh vật cũng đã bị những: “…thời nhà cửa lô xô, lâu đài ngan ngát, dây chằng như mắc cửi, cột dựng như cắm chông…” (266) hoàn toàn che lấp.
Trong hoạt động giáo dục, xưa kia, xã hội phong kiến trọng người có học, coi trọng cái chữ, vì thế nhà nhà đều mong muốn con trai của mình học hành đỗ đạt để thi thố với đời, để làm rạng danh tông tổ. Thì đến giai đoạn giao thời, chữ Nho đã không còn giá trị, hệ thống trường ốc của thời phong kiến không còn là nơi tới lui của những người yêu chữ nghĩa. Bên cạnh đó, hệ thống trường học của người Pháp thì chẳng được quan tâm xây dựng. Hà Nội giai đoạn này các trường học dường như trống vắng: “Người Pháp nêu chiêu bài là “đi khai hoá”, nhưng đến Hà Nội ba mươi năm, cũng chỉ mở được một Trường tiểu học phố hàng Bông, mãi sau mới thêm một trường nữa ở hàng Đào. Người ta bảo: “học gì mà lại học “la vát” là “con bò cái”; chả là quen học một chữ đã là nghĩa lý tồi mà. Dân ta không chịu cho con em đi học. thúc ép, thì góp tiền thuê người đến ngồi ở trường cho qua chuyện. sau lại có trường Mã Mây và trường Thông ngôn ở bờ sông. Biết rằng học cũ, lúc ấy, là ổ chống đối, nó sửa dần. Ròi bỏ hẳn các kỳ thi hương. Lúc ấy thì các trường mới của thực dân mới có nhiều trò hơn” (3;32,33).
Có thể nói, những biến đổi về mặt xã hội ở Hà Nội giai đoạn giao thời diễn ra một cách mạnh mẽ và đầy khốc liệt. Những nền tảng đạo đức cũ đã mất đi, cái mới vừa hình thành chưa rõ hình khối đã bị bóp méo, lệch lạc làm cho xã hội đầy rẫy những cảnh tượng đau lòng. Người dân An Nam từ thân phận làm chủ đã trở thành nô lệ, bị phân biệt đối xử ngay trên chính mảnh đất quê hương của mình. Người Pháp, chủ nhân mới của Hà Thành nhưng không muốn xây dựng mà muốn đầu độc nưgời dân bằng những thứ tệ nạn như: thuốc phiện, rượu chè, đĩ điếm… làm cho người dân sa đoạ để dễ bề cai trị, đồng hoá. Du ký quốc ngữ giai đoạn giao thời đã ghi lại một cách khách quan nhất những hiện tượng xã hội đó.
2.3. Tình cảm của người viết du ký dành cho Hà Nội
“Chao ôi! Cái thú đi du lãm, cũng là cái thú chung của nhân loại, không phải là cái thú riêng của một mình ai; duy những người có tâm tình với non nước, có ý vị với thế đạo với nhân tâm, trong khi du lãm, sẽ có cái thú vị riêng vậy” (4;367). Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục thổ lộ quả không sai. Chỉ những người có tình cảm thiết tha với non sông, gấm vóc mới có được những cảm nhận sâu sắc về cảnh vật và những tình cảm đó không thể nào giấu giếm được khi đọc du ký mà họ đã trãi nghiệm cùng cảnh vật.
Nếu như đọc du ký của người nước ngoài viết về Hà Nội ta có thể hình dung những biến đổi về kiến trúc đô thị Hà Thành những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX thì đọc những trang du ký của người Việt viết về Hà Nội giai đoạn giao thời ta có thể thấy được tình cảm thiết tha của các tác giả dành cho mảnh đất này. Tình cảm ấy được thể hiện bằng niềm tự hào về lịch sử đất cố đô qua những chứng tích lịch sử như: thành Cổ Loa, núi Tuý Vân, núi Tử Trầm, hồ Hoàn Kiếm… Bên cạnh những tàn phá mà thực dân Pháp không ngại ngần thực hiện đối với mảnh đất Hà thành thì các tác giả viết du ký vẫn tìm được những nét đẹp không dễ gì xoá được của những công trình, kiến trúc lịch sử, những kiến tạo của thiên nhiên dành cho mảnh đất ngàn năm văn hiến. Những nét đẹp đó đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt nói chung, người dân Hà Nội nói riêng.
Trong bối cảnh mà thực dân Pháp đang nỗ lực mọi cách để thực hiện chính sách đồng hoá thì những du ký viết về lịch sử có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Nó có tác dụng khơi dậy hào khí dân tộc một thời đồng thời thể hiện tình cảm yêu quê hương tha thiêt của các tác giả viết du ký. Tùng Vân ca ngợi di tích Cổ Loa trong niềm tự hào của người dân đất Việt, yêu sử Việt, yêu những chứng tích lịch sử của người Việt: “Lại người bình sinh đã từng xem đọc đến quốc sử, tư tưởng đến quốc hồn, biết rằng cha ông mình không đến nỗi là ươn hèn, non sông mình không đễn nỗi là tịch mịch; đọc đến cái lịch sử công nghiệp, thì trong lòng như gợi như khơi; đọc đến cái lịch sử tâm tình, thì trong dạ như đau như thắt.” (4;492). Những cuộc lãng du trở về với nguồn cội của những văn nhân như Tùng Vân, Phạm Quỳnh, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Háo Vĩnh, Phạm Văn Duyệt “cũng là vì chút cảm tình với lịch sử mà đi chơi vậy” (4;492). Là người đất Việt yêu lịch sử người Việt, là người Hà Thành gắn bó với chứng tích lịch sử của Hà thành, trong nguồn mạch chung vẫn chảy những mạch ngầm riêng, chính điều đó đã khiến những dòng du ký viết về lịch sử Cổ Loa của Tùng Vân trở nên có hồn và đầy trữ tình.
Trở về với cảnh đẹp quê hương cũng là một cách thể hiện tình cảm đối với mảnh đất mình chôn nhau cắt rốn của các tác giả viết du ký. Hà Nội quả thật không thiếu những cảnh đẹp. Nếu như những công trình kiến trúc nhân tạo để lại niềm kiêu hãnh về lịch sử dân tộc cho những người con đất Hà thành thì những công trình kiến tạo của thiên nhiên đem lại sự say mê vô tận cho người ngắm cảnh. Cũng cảnh vật đó, bao lần ta nhìn ngắm, bao lần ta trải nghiệm nhưng mỗi lần trở về với cảnh là mỗi lần ta thấy gắn bó không thể dứt lìa. Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục tìm thấy sự thú vị ở núi Tử Trầm với tư cách một người gắn bó tha thiết với cảnh đẹp: “Chao ôi! Núi Tử Trầm kia có xa gì đâu, nhà ta ở đối với núi Tử Trầm, chỉ cách một cánh bãi, một con sông, một phía đồng, khi sớm ngày trở dậy mở cửa, trông ra phía tây nam, đã thấy sơn sắc mông lung ở đó; mà hang Tử Trầm kia, cũng vẫn là cái hang ta mấy năm về trước ra vào thăm chơi;...” (4;365).
Cảm xúc tràn đầy về danh thắng Tuý Vân đã đưa ngòi bút của Nguyễn Bá Kỉnh tha hồ trôi chảy trên dòng sông thơ. Chỉ chưa đầy ba trang du ký mà tác giả đã phóng bút làm nên 4 bài thơ tả cảnh đẹp của Tuý Vân. Bấy nhiêu đủ thấy niềm yêu mến cảnh vật chất chứa tự nhiên trong lòng của tác giả. Nói rằng “bận việc học hành, theo đường danh lợi, cho nên cũng ít khi lãm tuý tầm u” (4;410) nhưng cảm tình đối với cảnh thì đã ngụ sẵn trong lòng. Vì vậy, khi đối diện với cảnh lòng không khỏi bồi hồi cảm xúc:
Gởi với non sông tiếng nhỏ to,
Người về nhớ cảnh mặt buồn xo.
Cuộc vui này đợi năm sau hử!
Hứng bãi thuyền lui mái gã du. (4;412)
Người về mà vẫn luyến lưu với cảnh, hẹn một ngày sẽ trở lại tương phùng. Đó là mối tình gắn bó keo sơn của người con đất Việt với thắng cảnh nơi đế đô. Tình cảm đó dường như càng mãnh liệt hơn khi mảnh đất ấy đang mỗi ngày một đổi thay bởi gót giày xâm lược của những kẻ đến từ phương trời xa lạ.
Phố phường Hà Nội là nguồn cảm hứng vô tận của bao tao nhân, mặc khách. Có lẽ ai một lần đặt chân đến mảnh đất này cũng đọng lại trong lòng những cảm xúc riêng. Ngay cả người Pháp, những người theo chân đội quân xâm lược đến Hà Nội cũng không kiềm lòng được bởi sự thăng hoa của những tình cảm khó tả. Phải gắn bó với Hà thành thì họ mới có được nguồn cảm hứng vô tận để viết những trang du ký có giá trị về mảnh đất này như thế. Ta không mấy ngạc nhiên khi Claude Bourrin đã reo vui khi được tao ngộ với Hà Nội sau bao tháng ngày xa cách vì công việc nơi biên giới: “Hà Nội! Ôi vui sướng biết bao gặp lại nó sau một năm phải lưu đày nơi biên giới. Hà Nôi! Nơi đây cuộc sống náo nhiệt về đêm tràn ngập ánh đèn của các hiệu cà phê và các cửa hàng, phố xá tráng lệ đầy nghẹt người” (2;93). Những dòng xúc cảm như thế trong du ký của người nước ngoài viết về Hà Nội giai đoạn giao thời quả thật rất hiếm hoi bởi sự gián cách về nhiều phương diện: tình cảm, quan niệm về cái đẹp, tư tưởng của kẻ cai trị… Tuy nhiên, trong góc sâu tâm hồn của người viết vẫn ẩn chứa một mối cảm tình nhất định đối với mảnh đất mà mình cùng trãi nghiệm qua bao thời gian.
Nghiên cứu du ký viết về Hà Nội giai đoạn giao thời không thể bỏ qua khía cạnh cảm xúc của người viết đối với cảnh vật. Đó là một thoáng lắng đọng trong tâm hồn người viết khiến tác phẩm trở nên gần gũi với người đọc. Cũng là nơi người đọc và người viết tìm thấy sự giao hoà trong suy nghĩ, tình cảm.
3. Tìm về những trang du ký xưa viết về đất Hà thành những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX chúng ta không khỏi bồi hồi trước những biến cố lớn lao mà mảnh đất đế đô trải qua. “Ôn cũ, biết mới. Xây dựng một xã hội mới, cũng nên biết cái nền trên đó mình xây, nó như thế nào. Biết những cái vẻ vang, cũng biết cả những nỗi nhọc nhằn của ông cha ta thì mới rõ đời ta bây giờ là quý làm sao, mới hiểu cái giá trị của đất hương hoả nay trao đến tay ta”. (3;7) Lời mở đầu cho tập du ký Phố phường Hà Nội xưa của Hoàng Đạo Thuý đã khẳng định giá trị của những chứng tích lịch sử trong quá trình phát triển xã hội. Hà Nội ngày nay đã ào ạt phát triển cũng với nhịp điệu phát triển của đất nước nhưng giai đoạn đau thương thời Pháp thuộc vẫn không xoá nhoà được trong ký ức của dân tộc. Giai đoạn lịch sử ấy đã ghi dấu sâu đậm trên những trang du ký và vẫn còn mãi với thời gian.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



