Bài viết mới đăng
Trang chủ » Xem tất cả
20 thg 3, 2014
Người Raglai ở Bác Ái, Ninh
Thuận có nhiều nghi lễ đặc sắc như lễ cưới, lễ bỏ mã, lễ mừng lúa mới…
đặc biệt nơi đây còn lưu giữ tập tục ngủ thảo độc đáo.
Raglai là một dân tộc thuộc huyện vùng cao Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận có
ngôn ngữ và nét văn hóa gần giống với dân tộc Chăm. Họ sống chủ yếu
quanh đồi núi, ở trong những ngôi nhà sàn, làm nương rẫy, có lối sống
mang tính cộng đồng và nhiều nghi lễ, lễ hội đặc sắc.
Dưới ánh trăng sáng trên những ngọn triền đồi, bên ánh lửa bập bùng của
núi rừng, những cô gái chàng trai Raglai tụ tập bên bãi đất trống của
làng, bên ché rượu cần nồng ấm họ cùng nhau ca hát, nhảy múa. Từng đoàn
người nhảy vòng quanh ánh lửa, đôi mông lắc lư, tay nhịp nhàng vỗ nhẹ
chiếc Mã La tạo nên những âm thanh vang vọng núi rừng. Cuộc sống vui vẻ
bình dị cứ thế diễn ra theo ngày tháng của người Raglai.
|
Vợ chồng Ama Tách kể về tục ngủ thảo.
|
Sau lễ hội, tiếng Mã La bắt đầu ngừng vang, những thanh niên Raglai lần
lượt tìm cho mình một chàng trai, cô gái rồi cùng nhau về một mái nhà
sàn cao ráo. Trong đêm tối họ nằm sát bên nhau trao gửi những lời yêu
thương, tỏ tình, bắt đầu tìm hiểu về nhau để tiến đến một lễ cưới nếu
hai bên cùng đồng ý. Đó là tập tục ngủ thảo độc đáo của người Raglai.
Ngủ thảo là ngủ chung với nhau để tỏ tình, để hiểu nhau, rồi yêu nhau,
mức độ ngủ thảo chỉ đến độ ngủ chung, trò chuyện và nắm tay, đặc biệt
kiêng kị quan hệ ân ái. Nếu cặp đôi nào phạm phải điều kiêng kị này sẽ
bị làng phạt vạ bằng cách lấy roi mây đánh khắp cơ thể. Nếu con trai vi
phạm bằng những hành động vượt phạm vi nắm tay và bị nhà gái lên án, sẽ
bị nhà gái và cộng đồng làng phạt vạ bằng một con bò, một con heo và gà
cho cả làng. Già làng sẽ cho làm mâm cỗ chuộc lỗi với thần linh và thông
báo đến mọi người trong làng cùng biết về vi phạm của chàng trai và
chàng trai sẽ bị đuổi khỏi làng.
Người Raglai quan niệm cuộc sống của họ được linh hồn tổ tiên và thần
linh giám sát nên những việc như quan hệ tình dục trước hôn nhân, ăn cắp
vặt.... đều sẽ bị thần linh và tổ tiên nhìn thấy, quở phạt. Do đó, họ
luôn có lối sống hiền hòa, chân chất và ngay thẳng. Yếu tố về niềm tin
tâm linh đã trở thành một phương thức giáo dục rất hiệu quả dù họ sống
trên những đồi núi hoang sơ.
|
|
|
Ngôi nhà sàn truyền thống của người Raglai.
|
Người Raglai rất quan trọng hôn nhân đôi lứa nên đó để tiến đến ngủ
thảo họ phải tìm hiểu trước cô gái hay chàng trai về tuổi tác, gia tộc,
tính cách và lối sống. Nếu đã biết được đối phương thì dù là gái hay
trai vẫn có thể lên tiếng mời đối phương về nhà ngủ thảo và chỉ ngủ ở
nhà của cô gái hoặc một nhà sàn chung của làng. Ở đó họ không phân chia
hay ngăn cách, ai đến trước thì tự tìm cho mình một chỗ ngủ để cùng tâm
tình.
Với những gia đình có cô gái vừa lớn đủ tuổi cặp kê thì ngôi nhà sàn
truyền thống được phân làm nhiều khu ngăn, nơi ngủ của bố mẹ, nơi tiếp
khách, nơi ăn uống và nơi dành cô gái tiếp chàng trai trong những đêm
ngủ thảo. Ở đó các trai gái Raglai nói chuyện và thao thức suốt đêm, đến
sáng ai về nhà nấy. Những hôm sau nữa chuyện tình ngủ thảo lại tiếp tục
diễn ra đến khi nào chàng trai và cô gái ưng cái bụng thì gia đình nhà
gái sẽ làm lễ bắt chồng cho cô gái.
|
|
|
Một gia đình người Raglai ở Bác Ái.
|
Nếu sau đêm ngủ thảo cả chàng trai và cô gái đều không ưng, họ sẽ không
tìm đến nhau nữa. Những đêm hội khác lại diễn ra, họ lại bắt đầu tìm
cho mình những người khác để cùng ngủ thảo, tâm tình và trò chuyện.
Chẳng biết tục ngủ thảo đã có từ bao lâu nhưng nó đã trở thành một nét
đẹp rất riêng và độc đáo của người Raglai, sau những niềm vui lớn của
cộng đồng là niềm vui, hạnh phúc của đôi lứa trai gái Raglai.
Bài và ảnh: Putra Jatrai
Sau khi chia tay vĩnh viễn
người chết mọi người dặn dò người thân không buồn nữa, rồi cùng nhau
uống rượu cần, ca hát nhảy múa, biến lễ Bỏ Mã thành lễ hội quan trọng và
vui vẻ nhất của người Raglai.
Cũng như dân tộc Chăm anh em kế cận, người Raglai cũng quan niệm, trong
cuộc sống nhân gian có hai thế giới cùng tồn tại song song, đó là thế
giới của người đang sống và thế giới của người đã khuất. Thế giới mà ta
đang sống chỉ là tạm bợ và thế giới của người đã khuất mới là thế giới
vĩnh hằng. Do đó, khi có người thân đã qua đời, họ luôn tổ chức một lễ
bỏ mả trang trọng. Lễ chia tay người chết về thế giới vĩnh hằng là một
lễ nghi quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi con người Raglai.
|
Vẻ đẹp hoang sơ trong khu vực sinh sống của người Raglai.
|
Lễ bỏ mã được thực hiện trong 3 ngày với những nghi thức khác nhau, mỗi
nghi thức mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, được truyền tụng từ đời này
sang đời khác và bảo lưu một cách nguyên vẹn.
Ngày đầu của buỗi lễ là ngày chuẩn bị lễ vật và thông báo đến các anh
em bạn bè gần xa ở các làng khác cùng đến chung vui và tiễn đưa người
chết. Lễ vật là 3 ché rượu cần, 3 con heo, một con bò hoặc con trâu, gà,
vịt và những sản vật của địa phương.
Người Raglai có cuộc sống mang tính cộng đồng, nên lễ bỏ mả phải tập
trung đầy đủ những người trong làng cùng tham dự để cùng chia tay người
đã khuất và cùng nhau thực hiện các nghi lễ một cách đầy đủ, trang
trọng.
Với những gia đình không có nhiều của
cải sẽ được cộng đồng giúp đỡ nhưng lễ bỏ mả sẽ được tổ chức sau một năm
hay hai năm sau đó.Với những gia đình có nhiều của cải lễ bỏ mả sẽ được thực hiện một ngày
sau khi người chết vừa qua đời.
|
|
|
Phụ nữ Raglai đi rẫy về.
|
Trong ngày đầu của buỗi lễ sẽ thực hiện nghi thức mời thầy cúng (Chủ
Nhang) là già làng được mọi người trong palei (làng) tin tưởng, kính
trọng và am hiểu nhiều những bài khấn vái, bùa phép. Sau lễ mời Chủ
Nhang sẽ là nghi thức dặn hồn mả. Người chết sẽ được Chủ Nhang thông
báo tại ngôi nhà mồ về ngày, giờ diễn ra lễ bỏ mả để người chết biết mà
đến đón nhận những lễ vật được chia cho người chết. Sau những nghi thức
trên Chủ Nhang và những người trong gia đình cùng thực hiện nghi thức
múa, khóc tế và khấn vái để cầu xin ông bà tổ tiên cho linh hồn người
chết về với tổ tiên ở bên kia thế giới.
Ngày thứ hai được xem là ngày lễ quan trọng tại nhà. Trong ngày này bà
con hàng xóm láng giềng cùng đến bữa ăn bữa cơm để chia tay người chết.
Lễ vật chia cho người chết được làm một mâm cỗ nhỏ gồm 3 chén rượu cần
được múc ra từ 3 ché, 3 đĩa thịt heo, 3 chén trầu cau, 3 chén gạo, một
con gà luộc.
Sau khi lễ vật xong xuôi được đưa lên cúng ở trên kệ cao, rồi Chủ Nhang
cùng đoàn người thân trong gia đình đến nhà mồ khóc tế, múa Mã la để
rước hồn người chết về nhà ăn cơm. Sau đó, mọi người trong làng cùng ăn
cơm để chia tay người chết rồi chuẩn bị lễ làm tầng mã. Lễ này được xem
là quan trọng nhất, tất cả mọi người phải tham gia đông đủ để gặp gỡ và
chia tay người chết lần cuối cùng. Lễ được thực hiện từ đầu giờ chiều
đến chập tối, sau đó mọi người cùng ăn uống, nhảy múa, ca hát bên đống
lửa và ché rượu cần cho đến sáng hôm sau.
Ngày thứ ba được xem là ngày chia tay vĩnh viễn người chết. Sáng sớm
của ngày thứ ba mọi người chuẩn bị lễ vật để cúng cho người chết tại nhà
mồ, kèm theo đó là lễ cúng cơm sáng. Sau đó, những người đàn ông khiêng
lễ vật ra nhà mồ, đến nơi mọi người bày lễ vật ra xung quanh. Chủ Nhang
của buổi lễ chia cho mọi người những nén hương, sau đó mọi người đứng
thành vòng xung quanh nhà mồ khấn vái để chia tay linh hồn người chết,
đội múa Mã la nhảy vòng xung quanh nhà mồ.
|
|
|
Những ngôi nhà mồ của người Raglai.
|
Sau những nghi lễ tại nhà mồ mọi người cùng nhau về nhà chuẩn bị buổi
lễ dặn dò người sống trong gia đình không buồn nữa. Chủ Nhang cùng những
người thân trong gia đình cùng nâng chén rượu cần, khấn vái và dặn dò
người trong nhà phải tiếp tục sống và làm ăn phát đạt, giàu có.
Lễ xong xuôi tất cả mọi người trong làng cùng ăn cơm, uống rượu cần,
đốt lửa nhảy múa, ca hát trước sân nhà, biến ngày buồn thành ngày vui,
biến ngày lễ thành ngày hội, mọi người vui vẻ, vui chơi đến thâu đêm
suốt sáng.
Bài và ảnh: Putra Jatrai
17 thg 3, 2014
Lễ cúng trỉa lúa của đồng bào dân tộc Brâu vừa được tái hiện sinh động tại Làng VH-DL các dân tộc Việt Nam, Hà Nội.
Lễ cúng trỉa lúa của người Brâu thường tổ chức vào khoảng tháng 5 âm lịch, khi bà con bắt đầu chuẩn bị xuống giống: tỉa lúa, trỉa bắp, trồng mì... Sự kiện này được tổ chức thể hiện ước mong cùng hy vọng rất mộc mạc của bà con dân làng là sẽ được một mùa thu hoạch nhiều lúa, nhiều mì, nhiều khoai, nhà nhà ấm no...

Tái hiện khâu chuẩn bị của lễ hội cúng trỉa lúa. (ảnh: Mỹ Ngọc)
Đây là một trong những nghi lễ long trọng và độc đáo, bởi nó tập trung, hội tụ được sự tham gia và quan tâm của toàn cộng đồng. Lễ cúng trỉa lúa có thể do cả làng hay một nhóm gia đình và cũng có thể chỉ do một gia đình tổ chức. Lễ vật thường bao gồm hai ché rượu cần, ba con gà, một con lợn, một con dê và đặc biệt nhất không thể thiếu là tất cả những hạt giống dùng để gieo trong năm mỗi thứ một nắm cùng các loại lá cây rừng, lá thuốc, cơm lam… Trong phần lễ, thầy cúng sẽ lấy tiết của các con vật trộn chung với hạt giống.
Ông A Tâm, cán bộ Trung tâm Văn hóa tỉnh Kon Tum cho biết: “Người ta trộn tiết với những hạt thóc và tin tưởng là những hạt thóc này sẽ không bị những con vật như chuột, chim chóc trong rừng phá hoại. Họ tin rằng khi cúng như vậy thì những hạt thóc này sẽ có sức mạnh vượt qua những khó khăn, thách thức thời gian.”
“Cùng với đó, họ cầu cho mình có sức khỏe và mùa màng tốt tươi trong năm. Sau khi cúng xong, những hạt thóc này sẽ gói lại thành từng gói nhỏ và chia cho các thành viên để họ đem về nhà trộn chung với thóc lúa, hạt giống xong mới đem gieo trồng.” – Ông A Tâm cho biết.
Sau phần lễ, người dân sẽ quây quần để tổ chức ăn uống, giao lưu.
Sau khi kết thúc phần lễ, dân làng tổ chức ăn uống, giao lưu, vui chơi, nhảy múa, biểu diễn cồng chiêng… Khách khứa tới thăm càng đông thì bà con càng vui bởi lẽ họ coi những người khách chính là người do Giàng phái tới và điều này đem lại cho họ vụ mùa tốt tươi, bội thu như mong muốn.
Xuất phát từ tập quán sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên người Brâu rất coi trọng việc cúng thần nông nghiệp để cầu mùa. Lễ cúng trỉa lúa không chỉ thể hiện khát vọng vươn lên làm chủ cuộc sống, làm chủ thiên nhiên mà còn tăng cường tình đoàn kết, gắn bó trong cộng đồng người Brâu./.
Mỹ Ngọc - Đào Yến/VOV
Lễ cúng trỉa lúa của người Brâu thường tổ chức vào khoảng tháng 5 âm lịch, khi bà con bắt đầu chuẩn bị xuống giống: tỉa lúa, trỉa bắp, trồng mì... Sự kiện này được tổ chức thể hiện ước mong cùng hy vọng rất mộc mạc của bà con dân làng là sẽ được một mùa thu hoạch nhiều lúa, nhiều mì, nhiều khoai, nhà nhà ấm no...
Tái hiện khâu chuẩn bị của lễ hội cúng trỉa lúa. (ảnh: Mỹ Ngọc)
Đây là một trong những nghi lễ long trọng và độc đáo, bởi nó tập trung, hội tụ được sự tham gia và quan tâm của toàn cộng đồng. Lễ cúng trỉa lúa có thể do cả làng hay một nhóm gia đình và cũng có thể chỉ do một gia đình tổ chức. Lễ vật thường bao gồm hai ché rượu cần, ba con gà, một con lợn, một con dê và đặc biệt nhất không thể thiếu là tất cả những hạt giống dùng để gieo trong năm mỗi thứ một nắm cùng các loại lá cây rừng, lá thuốc, cơm lam… Trong phần lễ, thầy cúng sẽ lấy tiết của các con vật trộn chung với hạt giống.
Ông A Tâm, cán bộ Trung tâm Văn hóa tỉnh Kon Tum cho biết: “Người ta trộn tiết với những hạt thóc và tin tưởng là những hạt thóc này sẽ không bị những con vật như chuột, chim chóc trong rừng phá hoại. Họ tin rằng khi cúng như vậy thì những hạt thóc này sẽ có sức mạnh vượt qua những khó khăn, thách thức thời gian.”
“Cùng với đó, họ cầu cho mình có sức khỏe và mùa màng tốt tươi trong năm. Sau khi cúng xong, những hạt thóc này sẽ gói lại thành từng gói nhỏ và chia cho các thành viên để họ đem về nhà trộn chung với thóc lúa, hạt giống xong mới đem gieo trồng.” – Ông A Tâm cho biết.
Sau phần lễ, người dân sẽ quây quần để tổ chức ăn uống, giao lưu.
Sau khi kết thúc phần lễ, dân làng tổ chức ăn uống, giao lưu, vui chơi, nhảy múa, biểu diễn cồng chiêng… Khách khứa tới thăm càng đông thì bà con càng vui bởi lẽ họ coi những người khách chính là người do Giàng phái tới và điều này đem lại cho họ vụ mùa tốt tươi, bội thu như mong muốn.
Xuất phát từ tập quán sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên người Brâu rất coi trọng việc cúng thần nông nghiệp để cầu mùa. Lễ cúng trỉa lúa không chỉ thể hiện khát vọng vươn lên làm chủ cuộc sống, làm chủ thiên nhiên mà còn tăng cường tình đoàn kết, gắn bó trong cộng đồng người Brâu./.
Mỹ Ngọc - Đào Yến/VOV
Tên gọi khác:Brạo
Nhóm ngôn ngữ:Môn - Khmer
Dân số:200 người.
Cư trú:Tập trung ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
Đặc điểm kinh tế
Dân tộc Brâu đã bao đời du canh du cư. Người Brâu chủ yếu đốt rừng làm rẫy để trồng các loại lúa, ngôi, sắn, với công cụ sản xuất thô sơ như: rìu, rựa và chiếc gậy chọc lỗ tra hạt, năng suất cây trồng thấp.
Hôn nhân gia đình
Thanh niên nam nữ Brâu được tự do lấy vợ, lấy chồng. Nhà trai tổ chức hỏi vợ phải nộp lễ vật cho nhà gái, nhưng đám cưới thì tiến hành tại nhà gái, và chàng rể phải ở lại nhà vợ khoảng 2 đến 3 năm rồi mới được làm lễ đưa vợ về ở hẳn nhà mình.
Tục lệ ma chay
Theo phong tục người Brâu, người chết được đưa ra khỏi nhà, cho vào quan tài độc mộc và quàn tại một căn nhà riêng do dân làng dựng lên. Mọi người đến chia buồn, gõ chiêng cồng, mấy ngày sau mới mai táng. Những ché, gùi, dao, rìu... bỏ lại trong nhà mồ là số của cải gia đình cho người chết.
Văn hóa
Người Brâu ưa thích chơi cồng chiêng và các nhạc cụ cổ truyền. Chiêng cồng có các loại khác nhau. Đặc biệt có bộ chiêng tha (chỉ gồm hai chiếc) nhưng có thể trị giá từ 30 đến 50 con trâu. Các thiếu nữ thường chơi Krông pút là nhạc cụ gồm 5-7 ống lồ ô dài ngắn không đều nhau đem ghép với nhau, tạo âm thanh bằng đôi bàn tay vỗ vào nhau ngoài miệng ống. Khi ru con hoặc trong đám cưới... người Brâu có những điệu dân ca thích hợp. Những trò thả diều, đi cà kheo, đánh phết cũng là sinh hoạt vui chơi của thanh thiếu niên.
Nhà cửa
Nhà của người Brâu có những đặc điểm rất dễ nhận, ít thấy ở nhà những dân tộc khác.
Trước hết là người Brâu rất chú trọng làm đến việc làm đẹp cho ngôi nhà. Điều này được thể hiện ở các kiểu "sừng đầu đốc". Chỉ trong một làng nhỏ mà chúng tôi đã thấy bốn kiểu khác nhau. Chạy dọc theo sống nóc người ta còn dựng một dải trang trí không chỉ đẹp mà còn rất độc đáo.
Bộ khung nhà với vì kèo đơn giản, vách che nghiêng theo thế "thượng khách hạ thu".
Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt: vào nhà từ phía đầu hồi. Thang bắc lên một gian hồi để trống rồi mới vào nhà. Cách bố trí trên mặt sàn của gian hồi này cũng rất đặc biệt. Mặt sàn chia làm ba phần với các độ chênh khác nhau.
Trong nhà chia đôi theo chiều dọc, nửa về bên trái, một phần dành cho con gái, còn lại là nơi sinh hoạt của con trai về ban ngày vì đêm họ ra ngủ tại nhà rông. Còn nửa kia đặt bếp.
Trang phục
Tồn tại một loại hình trang phục đơn giản và có cá tính trong tạo hình và trang trí. Người Brâu có tục xăm mặt, xăm mình và cà răng. Phụ nữ đeo nhiều vòng trang sức ở tay chân và cổ.
+ Trang phục nam
Nam ở trần đóng khố. Đến tuổi 14, 15, 16 tuổi phải cưa bốn răng cửa hàm trên, và thường xăm mặt, xăm mình.
+ Trang phục nữ
Phụ nữ để tóc dài hoặc cắt ngắn. Xưa mình trần, mặc váy. Đó là loại váy hở, quấn quanh thân. Thân váy được xử lý mỹ thuật ở phần đầu váy và chân váy với lối đáp các miếng vải khác màu có các sọc đen ngang đơn giản chạy ngang thân váy. Mùa lạnh họ mang chiếc áo chui đầu, cộc tay, khoét cổ. Đây là loại áo ngắn thân thẳng, tổng thể áo có hình gần vuông. Thân áo phía mặt trước và sau được xử lý mỹ thuật cũng theo nguyên tắc như váy. Toa õn bộ thân trước màu sáng có đường viền đậm trên vãi và gấu áo; phía lưng áo được xử lý màu sáng có sọc ngang đơn giản nửa phía dưới áo. Người Rơ Măm không biết dệt, nhưng đây là bộ trang phục thấy ở họ với một phong cách tạo dáng (áo) khoét cổ (phía trước thấp hơn phía sau) đơn giản cũng như phong cách thẩm mỹ giản dị (áo và váy) ít gặp ở các dân tộc trong khu vực cũng như trong nhóm ngôn ngữ (đây cũng là lý do được chọn). Phụ nữ còn mang trên cổ một vài chuỗi hạt cườm ngũ sắc, hoặc vòng đồng, bạc cũng như vòng tay bằng các chất liệu trên.
Nhóm ngôn ngữ:Môn - Khmer
Dân số:200 người.
Cư trú:Tập trung ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
Đặc điểm kinh tế
Dân tộc Brâu đã bao đời du canh du cư. Người Brâu chủ yếu đốt rừng làm rẫy để trồng các loại lúa, ngôi, sắn, với công cụ sản xuất thô sơ như: rìu, rựa và chiếc gậy chọc lỗ tra hạt, năng suất cây trồng thấp.
Hôn nhân gia đình
Thanh niên nam nữ Brâu được tự do lấy vợ, lấy chồng. Nhà trai tổ chức hỏi vợ phải nộp lễ vật cho nhà gái, nhưng đám cưới thì tiến hành tại nhà gái, và chàng rể phải ở lại nhà vợ khoảng 2 đến 3 năm rồi mới được làm lễ đưa vợ về ở hẳn nhà mình.
Tục lệ ma chay
Theo phong tục người Brâu, người chết được đưa ra khỏi nhà, cho vào quan tài độc mộc và quàn tại một căn nhà riêng do dân làng dựng lên. Mọi người đến chia buồn, gõ chiêng cồng, mấy ngày sau mới mai táng. Những ché, gùi, dao, rìu... bỏ lại trong nhà mồ là số của cải gia đình cho người chết.
Văn hóa
Người Brâu ưa thích chơi cồng chiêng và các nhạc cụ cổ truyền. Chiêng cồng có các loại khác nhau. Đặc biệt có bộ chiêng tha (chỉ gồm hai chiếc) nhưng có thể trị giá từ 30 đến 50 con trâu. Các thiếu nữ thường chơi Krông pút là nhạc cụ gồm 5-7 ống lồ ô dài ngắn không đều nhau đem ghép với nhau, tạo âm thanh bằng đôi bàn tay vỗ vào nhau ngoài miệng ống. Khi ru con hoặc trong đám cưới... người Brâu có những điệu dân ca thích hợp. Những trò thả diều, đi cà kheo, đánh phết cũng là sinh hoạt vui chơi của thanh thiếu niên.
Nhà cửa
Nhà của người Brâu có những đặc điểm rất dễ nhận, ít thấy ở nhà những dân tộc khác.
Trước hết là người Brâu rất chú trọng làm đến việc làm đẹp cho ngôi nhà. Điều này được thể hiện ở các kiểu "sừng đầu đốc". Chỉ trong một làng nhỏ mà chúng tôi đã thấy bốn kiểu khác nhau. Chạy dọc theo sống nóc người ta còn dựng một dải trang trí không chỉ đẹp mà còn rất độc đáo.
Bộ khung nhà với vì kèo đơn giản, vách che nghiêng theo thế "thượng khách hạ thu".
Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt: vào nhà từ phía đầu hồi. Thang bắc lên một gian hồi để trống rồi mới vào nhà. Cách bố trí trên mặt sàn của gian hồi này cũng rất đặc biệt. Mặt sàn chia làm ba phần với các độ chênh khác nhau.
Trong nhà chia đôi theo chiều dọc, nửa về bên trái, một phần dành cho con gái, còn lại là nơi sinh hoạt của con trai về ban ngày vì đêm họ ra ngủ tại nhà rông. Còn nửa kia đặt bếp.
Trang phục
Tồn tại một loại hình trang phục đơn giản và có cá tính trong tạo hình và trang trí. Người Brâu có tục xăm mặt, xăm mình và cà răng. Phụ nữ đeo nhiều vòng trang sức ở tay chân và cổ.
+ Trang phục nam
Nam ở trần đóng khố. Đến tuổi 14, 15, 16 tuổi phải cưa bốn răng cửa hàm trên, và thường xăm mặt, xăm mình.
+ Trang phục nữ
Phụ nữ để tóc dài hoặc cắt ngắn. Xưa mình trần, mặc váy. Đó là loại váy hở, quấn quanh thân. Thân váy được xử lý mỹ thuật ở phần đầu váy và chân váy với lối đáp các miếng vải khác màu có các sọc đen ngang đơn giản chạy ngang thân váy. Mùa lạnh họ mang chiếc áo chui đầu, cộc tay, khoét cổ. Đây là loại áo ngắn thân thẳng, tổng thể áo có hình gần vuông. Thân áo phía mặt trước và sau được xử lý mỹ thuật cũng theo nguyên tắc như váy. Toa õn bộ thân trước màu sáng có đường viền đậm trên vãi và gấu áo; phía lưng áo được xử lý màu sáng có sọc ngang đơn giản nửa phía dưới áo. Người Rơ Măm không biết dệt, nhưng đây là bộ trang phục thấy ở họ với một phong cách tạo dáng (áo) khoét cổ (phía trước thấp hơn phía sau) đơn giản cũng như phong cách thẩm mỹ giản dị (áo và váy) ít gặp ở các dân tộc trong khu vực cũng như trong nhóm ngôn ngữ (đây cũng là lý do được chọn). Phụ nữ còn mang trên cổ một vài chuỗi hạt cườm ngũ sắc, hoặc vòng đồng, bạc cũng như vòng tay bằng các chất liệu trên.
Tuy kinh tế chậm phát triển, cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng trong cộng đồng Xinh Mun cũng có những nét đẹp văn hoá đặc trưng. Hàng năm, cứ mỗi độ xuân sang, khi hoa đào đã vãn, hoa ban đã nở trắng sườn non, măng đắng đã mọc ngoài rừng, cũng là dịp bà con Xinh Mun, từng nhà từng nhà tưng bừng tổ chức lễ hội Ksai Sa Típ, nghĩa là Lễ hội Lộc hoa, cầu lộc, cầu mùa, cầu phúc, cho con người mạnh khoẻ, mùa màng tốt tươi.
Lễ hội Lộc hoa được tổ chức vào sau dịp Tết Nguyên Đán, lần lượt tổ chức từng nhà, mỗi bản có bao nhiêu nhà là có bấy nhiêu ngày hội, lễ hội kéo dài, nhưng không bao giờ diễn ra khi hoa ban đã tàn, măng đắng đã mọc cao, vì khi ấy mùa làm nương (đầu tháng 4 dương lịch) đã bắt đầu, để không ảnh hưởng đến sản xuất.
Tuy lễ hội tổ chức trong từng nhà, nhưng lại là dịp hội tụ dân bản vì ai cũng tự giác tham gia, ai làm trái lệ dễ bị chê cười, ghét bỏ, thậm chí có thể bị loại ra khỏi cộng đồng.
Gọi là lễ hội nhưng không tốn kém vì được tổ chức đơn giản. Mâm lễ hội, ngoài 2 con gà luộc, một "ếp" xôi gạo mới, 1 đĩa trầu cau, ba chum rượu cần, là 2 bát canh nấu từ hoa ban và măng đắng - một món cúng thần linh, tổ tiên có tính bắt buộc.
Một cây nêu cao 4-5m dựng ở giữa nhà, được trang trí bằng những lá xanh, những cành hoa ban trắng ngần buộc gài kín cây nêu, ngoài ra bà con còn gài thêm những bông lúa nếp vàng được giữ nguyên sau khi gặt mùa năm trước, xung quanh cây nêu có ba vò rượu cần, đặc biệt có từ 3 đến 5 "bàn sang" - 1 loại nhạc cụ được "chế tạo" từ các chum, vò con, bên trong được làm bằng mảnh đồng mỏng, hình tròn đục thủng một lỗ ở cạnh mép nắp, để xỏ dây vào khi gõ một tay cầm dây nâng lên, hạ xuống trên miệng chum, tay bên kia cầm 1 que tre gõ nhịp nhàng lên nắp chum, tạo nên một âm hưởng mang đậm bản sắc dân tộc quện vào tiếng trống, tiếng chiêng lúc bổng, lúc trầm, lúc dịu dàng, khi bùng lên sôi nổi thúc giục mọi người vào hội xoè quanh cây nêu.
Lễ hội được bắt đầu khi chủ nhà (chủ lễ) ngồi nghiêm chỉnh bên cạnh mâm lễ khấn: Hỡi người trông coi ở tầng dưới hãy lên để trông coi cho ta hôm nay làm Lễ Ksai Sai Típ, thần linh hãy bảo vệ, hãy ăn hoa thay cơm, uống rượu thay măng, ăn hương thay hương thơm, ăn hương nếp thay cơm, ăn rồi hãy bảo vệ cho cuộc vui lành mạnh, cho hết ốm đau, cho vui trọn vẹn. Người lớn bảo nhau, trẻ em nghe lời người lớn, được vậy thì ước gì cũng có, sống lâu muôn tuổi, hỡi thần linh hãy bảo vệ hãy ngồi mâm đây ăn thịt, ăn hoa, ăn hương thơm, hãy phù hộ cho con cháu khoẻ như con gấu trong rừng, chạy nhanh như con hoẵng ngoài núi.
Rời mâm cỗ cúng ở góc nhà sàn, chủ lễ bước đến cạnh cây nêu giữa nhà, vít cần rượu nói lời mời tổ tiên uống trước bằng những lời trân trọng, thiết tha: "Hỡi tổ tiên, hôm nay ngày lành tháng tốt, ngày sản xuất đã được nhìn thấy kết quả, con cháu làm lễ hội Ksai Sa típ, tổ tiên hãy đến bảo vệ cho con cháu ăn uống vui vẻ, vui chơi thoả mái, nhưng xin hãy đừng để cho ai uống say làm náo loạn bản mường, cãi cọ nhau làm xấu hổ mọi người, năm nay vui, năm mới vui tiếp, như thế mới vui bản yên mường, ai cũng sống lâu muôn tuổi, gìn giữ cuộc sống, chống lại thú rừng, người xấu quấy phá". Chủ lễ tiếp tục mời thần linh uống rượu: "Hỡi thần linh, bảo vệ ta, hãy bảo vệ ta đến cùng, xin mời thần linh uống rượu cùng ta".
Sau khi mời tổ tiên, thần linh uống rượu xong, chủ lễ trân trọng mời ba "già bản" có uy tín trong dòng họ, trong bản mường, sau đó mời đến con cháu, và toàn thể dân bản đến dự lễ hội uống rượu.
Cùng lúc tiệc rượu bắt đầu là tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng nhạc từ nhạc cụ "bàn sang" nổi lên rộn rã, mọi người nắm tay bắt đầu múa xoè xung quanh cây nêu giữa nhà. Khác với xoè Thái êm dịu, nhẹ nhàng, xoè quanh cây nêu lễ hội Lộc hoa rộn ràng, mạnh mẽ, có phần quyết liệt hơn, ồn ã hơn nhiều, xoè múa say sưa, lúc cầm tay nhau, lúc xoè khan, lúc dùng khăn nối vào nhau, tạo thành điệu xoè kéo co (xoè Thái không đâu có). Xoè khoảng 1 giờ, tiếng trống tiếng nhạc trầm dần, họ lại mời nhau uống rượu cần, rồi lại tiếp tục xoè, hết đợt này đến đợt khác, kéo dài đến lúc phương đông hửng sáng mới kết thúc, mọi người hoan hỉ xuồng cầu thang về nhà, để đến tối hôm sau lại đến dự Lễ hội ở nhà người trong họ hoặc cùng mường cho đến khi hoa ban đã tàn, măng đắng mọc cao.
Hoàn toàn khác lễ hội của các dân tộc anh em, lễ hội Ksai sa típ của người Xinh Mun Tây bắc tuy kéo dài nhiều ngày nhưng không ăn uống linh đình, chỉ múa không có hát, vừa giản dị vừa vui, thường được tổ chức từng gia đình, vào buổi tối ấm cúng nên rất vui, thể hiện được bản sắc văn hoá của một dân tộc sống nơi biên giới Việt - Lào xa xôi.
Theo LC
Tên gọi khác: Puộc, Pụa
Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer
Dân số :10.000 người.
Cư trú
Cư trú ởvùng biên giới Việt - Lào thuộc hai tỉnh Sơn La, Lai Châu.
Đặc điểm kinh tế
Người Xinh Mun sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, trồng lúa nếp và ngô là chính. Có loại nương chọc lỗ tra hạt giống, có nương dùng cuốc và có nương dùng cày để canh tác. Một số nơi có ruộng nước. Trước kia đồng bào nuôi trâu, dê, lợn... thả rông, nay nhiều bản đã làm chuồng xa nhà cho súc vật. Hái lượm và săn bắn góp phần quan trọng cho đời sống đồng bào. Nghề đan lát khá phát triển, đồ đan đẹp và bền, đồng bào thường đổi đồ đan cho người Thái, người Lào để lấy một phần đồ mặc và đồ sắt. Người Xinh Mun có tập quán ăn trầu, nhuộm răng đen, uống rượu cần, thích gia vị cay.
Tổ chức cộng đồng
Trước kia người Xinh Mun sống du canh, du cư, nay đồng bào đã sống ổn định và lập những làng đông đúc. Người Xinh Mun đa số mang họ Lò, họ Vi. Mỗi họ đều có kiêng cữ riêng. Các con theo họ cha. Trong nhà, khi người bố chết, thì con trai cả giữ vai trò quan trọng.
Hôn nhân gia đình
Trong hôn nhân, nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái. Sau lễ dạm, lễ hỏi mới đến lễ đi rể, thường sau vài ba năm lúc cô dâu chú rể đã có vài ba con, nhà trai mới tổ chức đón dâu về. Kể từ lễ đi ở rể, đôi vợ chồng phải đổi tên riêng của mình, lấy chung một tên khác do cậu, bố mẹ vợ hay thầy cúng đặt cho.
Phụ nữ Xinh Mun thường đẻ tại nhà. Khi con gần đầy tháng, cha mẹ nhờ thầy cúng đặt tên.
Tục lệ ma chay
Khi có người chết, người nhà bắn súng báo tin cho dân làng biết. Đồng bào không có tục cải táng, tảo mộ...
Nhà cửa
Đồng bào ở nhà sàn, mái hình mai rùa, có hai thang lên xuống ở hai đầu hồi.
Trang phục
Không có cá tính dân tộc mà chịu ảnh hưởng trang phục Thái đen (giống người Kháng).
theo: http://chimviet.free.fr
Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer
Dân số :10.000 người.
Cư trú
Cư trú ởvùng biên giới Việt - Lào thuộc hai tỉnh Sơn La, Lai Châu.
Đặc điểm kinh tế
Người Xinh Mun sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, trồng lúa nếp và ngô là chính. Có loại nương chọc lỗ tra hạt giống, có nương dùng cuốc và có nương dùng cày để canh tác. Một số nơi có ruộng nước. Trước kia đồng bào nuôi trâu, dê, lợn... thả rông, nay nhiều bản đã làm chuồng xa nhà cho súc vật. Hái lượm và săn bắn góp phần quan trọng cho đời sống đồng bào. Nghề đan lát khá phát triển, đồ đan đẹp và bền, đồng bào thường đổi đồ đan cho người Thái, người Lào để lấy một phần đồ mặc và đồ sắt. Người Xinh Mun có tập quán ăn trầu, nhuộm răng đen, uống rượu cần, thích gia vị cay.
Tổ chức cộng đồng
Trước kia người Xinh Mun sống du canh, du cư, nay đồng bào đã sống ổn định và lập những làng đông đúc. Người Xinh Mun đa số mang họ Lò, họ Vi. Mỗi họ đều có kiêng cữ riêng. Các con theo họ cha. Trong nhà, khi người bố chết, thì con trai cả giữ vai trò quan trọng.
Hôn nhân gia đình
Trong hôn nhân, nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái. Sau lễ dạm, lễ hỏi mới đến lễ đi rể, thường sau vài ba năm lúc cô dâu chú rể đã có vài ba con, nhà trai mới tổ chức đón dâu về. Kể từ lễ đi ở rể, đôi vợ chồng phải đổi tên riêng của mình, lấy chung một tên khác do cậu, bố mẹ vợ hay thầy cúng đặt cho.
Phụ nữ Xinh Mun thường đẻ tại nhà. Khi con gần đầy tháng, cha mẹ nhờ thầy cúng đặt tên.
Tục lệ ma chay
Khi có người chết, người nhà bắn súng báo tin cho dân làng biết. Đồng bào không có tục cải táng, tảo mộ...
Nhà cửa
Đồng bào ở nhà sàn, mái hình mai rùa, có hai thang lên xuống ở hai đầu hồi.
Trang phục
Không có cá tính dân tộc mà chịu ảnh hưởng trang phục Thái đen (giống người Kháng).
theo: http://chimviet.free.fr
Sắp Tết Đoan Ngọ, mùng 5 tháng 5 rồi, các bạn cùng mình làm cơm rượu miền Nam để chuẩn bị giết sâu bọ nhé!
Nguyên liệu:
1 kg nếp ngon
3-5 viên men giã nhuyễn
Lọ hoặc nồi thủy tinh có nắp
Cách làm:
Gạo nếp vo sạch, ngâm qua đêm rồi đổ nước xâm xấp mặt, nấu như nấu cơm nếp với chút muối
Cơm chín tới, đổ ra đĩa lớn, dùng đũa dàn cơm ra cho nguội. Khi cơm nguội, rắc đều men đã giã nhuyễn lên
Chuẩn bị lưng chén nước đã nấu chín, đeo găng tay
nylon, nhúng vào chén nước cho tay đủ ẩm, vo viên cơm nếp rắc men rồi
xếp vào thố sạch
Cắt một miếng giấy theo hình thố, đục lỗ, đặt lên trên, xếp tiếp lớp kế tiếp
Làm tiếp tục cho đến hết cơm, đậy nắp kín, đem ủ chỗ ấm.
Ngoài ra còn có cách ủ cơm rượu cho những ai ở nơi thiếu ánh nắng mặt trời và có lò nướng tốt. Đem thố cơm đặt vào giữa lò nướng, bật đèn pilot, đóng lò để đó
Múc nhẹ từng viên ra chén nhỏ, thêm xôi vò nếu thích
Chúc mọi người có những chén cơm rượu ngọt lịm, say say!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





